Một mùa xuân bị che khuất của Quang Dũng

Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988) thuộc vào số tác giả viết không nhiều, nhưng lại có nhiều thi phẩm đã và sẽ còn sống lâu dài với lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại, như các bài "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây", "Đôi bờ", "Mây đầu ô", "Quán bên đường" v.v... Tuy nhiên, trong di sản thơ Quang Dũng lại cũng có những bài phải chịu số phận khá "bất hạnh".

Vì nhiều lý do, chúng bị che khuất trong một thời gian dài, và sau này, dù có được đưa vào trong vài tuyển tác phẩm Quang Dũng thì chúng cũng vẫn ít được biết đến. Bài thơ có tên "Nhớ những mùa xuân" là một ví dụ.

Một mùa xuân bị che khuất bởi Quang Dũng -0

Nhớ một xóm rừng
Hoa mai nở trắng
Xuân về...
Áo người mới nhuộm chàm xanh
Bên bếp lửa sàn
Than đầu năm hồng rực
Khẩu hiệu trên bàn thờ Tổ quốc:
"Kháng chiến nhất định thành công, trường kỳ thắng lợi"
Tiệc vào xuân
Thịt rừng bày trên lá chuối
Rượu uống sừng trâu
Tiếng hú tung "còn"
Chiêng vang vách núi.

Nhớ một ven đồi
Hành quân tạm nghỉ
Bóc bánh chưng hậu phương
Lá dong thả trôi theo dòng suối
Hát bài ca chiến thắng đông xuân
Mắt đen em nhỏ đến gần
Vỗ tay hòa nhịp
Làng bản xa xôi vẳng tiếng khèn
Mùa xuân... Mùa xuân...
Rừng thay áo đẹp.

Nhớ một con đường biên giới
Nằm chờ giặc qua
Mũi súng kề bên nhành cúc dại
Sương rung rinh
Nặng ý mùa thơm xanh
Tươi tốt đang về
Tiếng chim trong bụi
Lao xao đời muông thú thanh bình
Ca ngợi bình minh vừa đến.

Nằm xa heo hút mà nhớ trung du
Nhớ sông Hồng chảy
Làng quê đôi bờ
Bóng những cây đào
Trên dòng phù sa
Nhớ những vườn hoa
Chèm Vẽ - Tây Hồ
Những vườn rau
Luống cày mời đất

Mùa xuân mong đợi mười năm
Đã về phấp phới cờ xanh
Thêu cánh hòa bình
Cờ dựng trên cổng chào
Lá dừa tươi mát
Cổng cuốn bằng rơm
Còn thơm mùa gặt
Cổng chào dựng bằng tôn sắt
Những mảnh cầu phao
Lấy trong đồn giặc ngổn ngang
Mùa xuân thức dậy đồng bằng
Mười năm ác mộng
Quê của ta:
Xuân đầu giải phóng
Sân đình đứng chật mít tinh
Chúc Cụ Hồ trường thọ
Xúng xính áo quần em nhỏ
Bắt chước văn công xòe quạt
Cây du trên bãi lại trồng...
Thôn nữ thở hơi trầu ấm áp
Hẹn tìm nhau chiều hội đốt bông

Mùa xuân mong đợi mười năm
Đã về cờ xanh phấp phới
Mùa xuân đồng bằng
Lại nhớ rừng xanh
Những mùa xuân thắng lợi.

Chúng ta biết Quang Dũng đã hoàn thành bài "Nhớ những mùa xuân" vào khoảng đầu năm 1954, là nhờ một tiểu dẫn ông đặt dưới chính văn: "Những ngày đồng bằng giải phóng, 1954", nghĩa là chỉ vài tháng trước khi diễn ra chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc chín năm trường kỳ chống Pháp. Thế nhưng phải đợi đến hơn ba năm sau nữa, bài "Nhớ những mùa xuân" mới được xuất bản lần đầu tiên trên tờ "Giai phẩm" của NXB Văn nghệ, Hà Nội, xuân 1957.

Số phận bất hạnh của bài thơ và đời lận đận của người thơ Quang Dũng kể từ ấy, có lẽ chính bởi cái sự ra mắt chưa đúng chỗ này. Nhưng nói sao mặc lòng, đọc lại "Nhớ những mùa xuân", ta vẫn thấy nó hoàn toàn hợp thức để được xem là một bài thuộc dòng thơ cách mạng Việt Nam giai đoạn chống Pháp, và mặt khác, là một thi phẩm xuân có dư vị vừa quen vừa lạ.

Bởi vì, không giống những thi phẩm xuất sắc như "Tây Tiến" hay "Mắt người Sơn Tây" mà Quang Dũng viết hồi đầu kháng chiến - những thi phẩm được đặc trưng bởi giọng điệu thơ trữ tình lãng mạn thấm đẫm chất bi tráng hoặc bi thương - "Nhớ những mùa xuân", trước hết, là bài thơ của niềm vui sống, niềm vui đời, vui chiến thắng, tràn đầy lạc quan và tin tưởng. Dường như thực tế chiến đấu dài lâu và những thắng lợi dồn dập của cuộc kháng Pháp cho đến lúc ấy rốt cuộc cũng đã gột sạch ở anh Vệ quốc quân trẻ ngày nào những tình cảm mộng mơ, những suy nghĩ vẩn vơ, nặng căn trí thức tiểu tư sản. Thay vào đấy là sự cảm nhận hiện thực bình dị, mộc mạc, chắc khỏe của con người công nông, con người lý tưởng của cách mạng, con người mà cách mạng rất cần. Vẫn là Quang Dũng nhớ, nhưng không còn bồng bềnh phiêu lãng như: "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi/ Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi" (Tây Tiến), không còn thăm thẳm da diết như: "Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm/ Em có bao giờ em nhớ thương?" (Mắt người Sơn Tây). Mà là cái nhớ sự sinh động, rực rỡ sắc màu của cuộc sống kháng chiến, và rất thực, như: "Nhớ một xóm rừng/ Hoa mai nở trắng/ Xuân về/ Áo người mới nhuộm chàm xanh/ Bên bếp lửa sàn/ Than đầu năm hồng rực", hay như: "Nhớ một ven đồi/ Hành quân tạm nghỉ/ Bóc bánh chưng hậu phương/ Lá dong thả trôi theo dòng suối/ Hát bài ca chiến thắng đông xuân".

Cuộc lột xác thơ và cải tạo người thơ Quang Dũng, nếu có thể nói như vậy, còn tạo được ấn tượng mạnh hơn đối với người đọc từng mê "Tây Tiến" và "Mắt người Sơn Tây", ở việc ông đã mạnh dạn đưa nội dung tuyên truyền chính trị vào thơ, kiểu như: "Khẩu hiệu trên bàn thờ Tổ quốc: Kháng chiến nhất định thành công, trường kỳ thắng lợi", hoặc là: "Quê của ta/ Xuân đầu giải phóng/ Sân đình đứng chật mít tinh/ Chúc Cụ Hồ trường thọ". Quang Dũng cũng đưa luôn vào bài thơ cả cái chất sống đời thường của văn xuôi tả chân thật thà, như: "Cờ dựng trên cổng chào/ Lá rừng tươi mát/ Cổng cuốn bằng rơm/ Còn thơm mùa gặt/ Cổng chào dựng bằng tôn sắt/ Những mảnh cầu phao/ Lấy trong đồn giặc ngổn ngang".

Nhìn khái quát về cả một giai đoạn của thơ Việt Nam, đây có lẽ là một hiện tượng mang tính phổ biến, một lựa chọn mỹ học chung cho các nhà thơ vốn xuất thân học sinh, sinh viên, trí thức tiểu tư sản lên đường đi theo kháng chiến, chứ không phải là trường hợp cá biệt, mang cái đặc sắc chỉ của riêng Quang Dũng. (Ta hãy nhớ tới các trường hợp: "Đèo Cả" của Hữu Loan, "Viếng bạn" của Hoàng Lộc, "Nhớ" của Hồng Nguyên, "Nhớ máu" của Trần Mai Ninh, "Nhà tôi" của Yên Thao... và rất nhiều trường hợp khác nữa).

Tuy nhiên, Quang Dũng vẫn là Quang Dũng, là hiện thân cho tài năng thơ, cho sự tài hoa mà có giấu đi hoặc cố tình làm khác đi, thì rồi cuối cùng nó cũng vẫn xuất lộ. Hãy đọc những câu: "Nhớ một con đường biên giới/ Nằm chờ giặc qua/ Mũi súng kề bên nhành cúc dại/ Sương rung rinh/ Nặng ý mùa thơm xanh/ Tươi tốt đang về/ Tiếng chim trong bụi/ Lao xao đời muông thú thanh bình/ Ca ngợi bình minh vừa đến", và những câu: "Nằm xa heo hút mà nhớ trung du/ Nhớ sông Hồng chảy/ Làng quê đôi bờ/ Bóng những cây đào/ Trên dòng phù sa/ Nhớ những vườn hoa/ Chèm Vẽ - Tây Hồ/ Những vườn rau/ Luống cày mời đất".

Vẫn là nỗi nhớ, vẫn là mùa xuân, nhưng từ cái sinh quyển trong tâm tưởng đến cái sinh quyển trong trời đất ấy đều chỉ là sự biểu đạt cho cái sống, cho sức sinh sôi đang lan tỏa giao hòa giữa con người với vạn vật, giữa vạn vật với nhau, khi xuân về. Ở đoạn trích đầu, ta hoàn toàn có thể nghĩ rằng mũi súng thép đang chờ nhả đạn vào quân địch kia cũng cảm nhận được hương thơm tinh khiết của nhành cúc dại; nó thở, làm sương rung rinh, đánh thức chim muông, làm dậy lên những thơm xanh tươi tốt từ mặt đất lúc bình minh. Còn ở đoạn trích sau, chỉ mấy chữ thôi nhưng cũng đủ thấy: không có con người - con người bị làm cho vắng mặt - mà chính dòng sông và phù sa, những cây đào, những vườn rau và luống cày vừa lật để chờ vào vụ, mới đích thực là những nhân vật chính trong không gian sinh thái này.

Đọc "Nhớ những mùa xuân" của Quang Dũng sau gần bảy mươi năm thi phẩm ra đời, ta có dịp sống lại cùng thi sĩ cái cảm giác khác lạ của mùa xuân hòa bình đầu tiên, sau nhiều mùa chinh chiến đã trải. Theo một nghĩa nào đó, bài hát "Mùa xuân đầu tiên" mà nhạc sĩ Văn Cao viết khoảng hai mươi năm sau đấy cũng có sự lặp lại vài trải nghiệm nghệ thuật mà Quang Dũng từng có khi ông viết bài thơ "Nhớ những mùa xuân". Số phận của hai tác phẩm khác nhau rất xa, dù tác giả của chúng đều là những tài năng sáng tạo nghệ thuật lớn. Nhưng đành vậy, Thượng đế vẫn thường không công bằng với tất cả.

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).