Hoạn Thư - Người đưa Thuý Kiều đến cõi đạo

Hoạn Thư chỉ đánh ghen để tỏ rõ quyền uy văn hoá, vậy mà đã giáng một đòn quyết định vào tình yêu cuộc sống và khát vọng trần thế của Kiều. Con người phản kháng trong Kiều chết dần, trở thành một cái bóng ban ngày đầy cam chịu. Từ đây, trên nấm mồ của tình yêu, của chữ Mệnh, đoá hoa phù dung của nhà Phật đã mọc lên.

Cuộc chơi văn hóa tước đoạt linh hồn

Trong lần chạy trốn đầu tiên mắc bẫy Sở Khanh, Kiều chịu nhịn khi Sở Khanh trở mặt và hùng hổ chối tội và dọa dẫm:

Nàng rằng: "Thôi thế thì thôi
Rằng không thì cũng vâng lời rằng không"

Nhưng đến khi Sở Khanh lấn tới "quát mắng đùng đùng" định "thị hùng ra tay" giở trò bạo lực thì Kiều bật lại ngay, quyết liệt, mắng thẳng vào mặt gã:

"Đem người đẩy xuống giếng khơi
Nói lời rồi lại ăn lời được ngay"

Lúc mới bắt cóc Kiều về, Hoạn Thư đánh đập, mắng mỏ nhục mạ Kiều, Kiều vẫn cam phận. Nhưng nếu sau đó Hoạn Thư giở trò thô bạo đánh đập, rỉa rói hay mắng nhiếc Kiều trước mặt Thúc chắc khó thắng Kiều - biết đâu sau trận đòn ghen, Kiều chẳng làm cho Hoạn Thư bẽ mặt như với Sở Khanh.

Nhưng Hoạn Thư đã không làm thế. Hoạn Thư chọn cách "giáp lá cà", lồng dần quyền lực vào tình cảm khiến cho Kiều dù đã tỉnh táo trước mọi điều vẫn bị cuốn  dần vào cuộc chơi văn hóa tước đoạt linh hồn mà Hoạn Thư là đạo diễn tài ba. Hoạn Thư đưa Kiều vào cuộc sống bình thường của một con hầu như trăm ngàn con hầu:

"Sớm khuya khăn mặt lược đầu
Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai"

Sau đó, Hoạn Thư tỉ tê tâm sự hỏi về tài đàn của Kiều, cho Kiều đánh đàn và tỏ ra đồng cảm với con người, văn hóa của Kiều:

Lĩnh lời nàng mới lựa dây
Nỉ non thánh thót, dễ say lòng người
Tiểu thư nghe cũng thương tài
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân

Kiều được nâng lên một cấp - nửa nghệ sĩ, nửa con hầu bên cạnh Hoạn Thư - nửa bà chủ, nửa tri âm. Cái tính chất nước đôi nhì nhằng đó chính là cái lưới dễ bủa sâu vào tâm thức giao thoa cộng sinh của con người Việt Nam . Rồi thời gian, như một phương tiện hiệu lực, tiếp tay thêm cho Hoạn Thư làm cho Kiều dần rơi vào tâm trạng cam chịu, tuyệt vọng:

Cửa người đày đọa chút thân
Sớm năn nỉ bóng, đêm ân hận lòng
Lâm Truy chút nghĩa đèo bòng
Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau!

Hình ảnh Kiều cũng mong manh hơn, chỉ là cái bóng. Có thể nói, Hoạn Thư đã "diễn biến hoà bình" để tước đoạt tinh thần phản kháng của Kiều. Con người  phản kháng chết dần, chết dần như thế. Từ đây, trên nấm mồ của tình yêu, của chữ Mệnh, đóa hoa phù dung của nhà Phật đã mọc lên. 

Cái bóng ban ngày trong thế giới của Hoạn Thư

Sống trong thế giới của Thúc Sinh, Kiều luôn hiện ra trong tư cách một cái "bóng" ban đêm:

"Người về chiếc bóng năm canh"
"Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai"
"Nàng từ chiếc bóng song the"
"Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài"

Từ chỗ chỉ là một chữ Mệnh, chữ Tài bất thành nhân dạng trong thế giới của tư tưởng và đạo lý Nho giáo phong kiến đến chỗ trở thành một cái bóng trong đêm lầm lũi, cô đơn và lệ thuộc trong thế giới của Thúc Sinh, tư cách con người của Kiều đã nhích lên một bước. Nhưng đến khi trở thành gia nô dưới trướng Hoạn Thư thì cái bóng bị phơi bày ra dưới ánh sáng ban ngày thật bẽ bàng, trơ trẽn:

Sớm năn nỉ bóng, đêm ân hận lòng

Sao Nguyễn Du không thể viết: "Đêm năn nỉ bóng, ngày ân hận lòng" theo cái logic thẩm mỹ trước đây? Chắc hẳn, có một linh cảm nghệ thuật tinh vi nào đó trong vô thức khiến Nguyễn Du chuyển biến từ cái bóng ban đêm thành cái bóng ban ngày làm đảo ngược hẳn cả tình thế số phận, tính chất của cuộc chơi. Trong từ ngữ tưởng như vô tình ta đều có thể nhìn ra thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du.

Nhưng cái bóng ban ngày của Kiều, dù thật bẽ bàng, mong manh, chua chát, vẫn không phải là cái bóng ma theo kiểu Đạm Tiên lởn vởn ở cõi đời. Cái bóng mong manh, lặng lẽ ấy của Kiều hiện lên trên cái nền lộng lẫy phù du của "bóng hoa đầy đất", "bóng nước in trời" thật hài hòa trong một cảm quan triết học của nhà Phật coi thế gian này và tấm thân ta chỉ là cái bóng hư ảo, giả tưởng mà thôi. Cái nhìn của nhà Phật thấm đượm cả vào trong thái độ và lời lẽ của Hoạn Thư và Thúc Sinh:

"Bể trần chìm nổi thuyền quyên
Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời"
"Nghìn xưa âu cũng thế này
Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa"

Tư tưởng Phật giáo đã trùm lên như một căn nguyên sâu xa và một cứu cánh giải thoát. Hoạn Thư cũng tìm thấy giải pháp khoan dung trong triết lý nhà Phật:

"Tiểu thư rằng: ý trong tờ
Rằng đem phận bạc xin nhờ cửa không
Thôi thì thôi, cũng chiều lòng
Cũng cho khỏi lụy, trong vòng bước ra"

Lụy ở đây là cõi đời tục lụy, là sự sa lầy trong tham, sân, si cái gốc của mọi khổ đau trần thế theo quan điểm của Phật giáo. Hoạn Thư khoan dung một cách có lý thuyết, có nguyên tắc, không phải chỉ là sự cảm thông của tình cảm hiện tại, mà là một quyết đoán lý trí muốn trừ tận gốc cái khổ của Kiều và cái mất mát của chính Hoạn Thư. Nếu như khi hành hạ Thuý Kiều, Hoạn Thư đứng ở lập trường Nho gia để giữ "nếp nhà" để khai thác tư tưởng triệt để "chính danh định phận”: "phận con hầu giữ, con hầu dám sai" để "làm cho con ở chúa nhà đôi nơi" thì khi nới tay với Kiều, Hoạn Thư lại đứng trên lập trường tư tưởng giải thoát của Phật giáo "cũng cho khỏi lụy" để đi tới quyết định "cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh".

Kẻ sát hại tư cách thẩm mỹ của Kiều - bằng ngón đòn đánh ghen siêu hạng bắt Kiều đánh đàn như một thứ "văn nô" - lại là kẻ mở cánh cửa cho Kiều bước sang cõi đạo. Cũng thật bất ngờ, cái không gian đầy màu sắc thiền lại nằm ngay trong vườn của nhà họ Hoạn, kẻ đầy những tham, sân, si trần thế. Cái không gian ấy như một thứ đồ cổ để trong nhà không mấy khi dùng đến, nay hiển hiện trước mắt Kiều như một cõi hóa thân:

"Sẵn Quan Âm các vườn ta
Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa
Có cổ thụ, có sơn hồ
Cho nàng ra đó, giữ chùa chép kinh
Tâng tâng trời mới bình minh
Hương hoa ngũ cúng sắm sanh lẽ thường"

Cái bình minh "tâng tâng" ở đây thật là trong trẻo, tinh khiết, như số phận Kiều vừa gột rửa hết bụi trần, mở ra trang đời mới, ngày sống mới! Và cái cõi đạo nằm gọn trong lòng cõi đời ấy cũng rất  Việt Nam .

Khoảng giao thoa giữa Đời và Đạo

Trong tâm thức người Việt, cõi đạo không hề  đứt đoạn với cõi đời, đạo bên đời, đời có đạo, đời đạo hai bề vẹn cả hai. Người Việt vừa tu Phật vừa mang gươm giữ nước, vừa ngồi trên ngai vàng trị quốc vừa vi hành lên núi tọa thiền, hạnh ngộ. Không phải là phép cộng giản đơn của kinh sách và gươm giáo, trăng gió và lý tưởng xã hội, sự hoà quyện các cực đối lập trong một thực thể dường như đã là thể tạng tinh thần của con người Việt Nam .

Nếu như ở một xứ sở khác, nhà thờ thật khó lòng cho một cô gái như Kiều vào nhà  thờ mà vẫn để cô gái đó gần gũi giao lưu với tình nhân kề cẫn cõi đời. Cái khoảng giao thoa giữa Đời và Đạo trong không gian Chùa Quan Âm các nhà họ Hoạn thật hợp với thể tạng trữ tình của người Việt Nam . Kiều đổi từ áo xanh nhà chứa sang áo nâu nhà Phật, nhưng vẫn chỉ là một con người ấy, một toà thiên nhiên ấy, một tài hoa ấy và một đau khổ ấy. Mẫu số chung nhân bản nhân văn xuyên thấu mọi hình tướng dị biệt. Và nếu như, trong cốt cách  tinh thần, trong tư cách nạn nhân Kiều không có gì thay đổi, thì trong các màu áo khác nhau Kiều phát lộ những sắc thái khác nhau lúc ngả về đời, lúc nghiêng về đạo, lúc thăng hoa lộng lẫy trong cái đẹp, lúc chìm đắm ê chề trong cõi thấp hèn, nô lệ, khổ đau.

Khi là con điếm, Kiều được hiện ra dưới cái nhìn của Thúc Sinh như là một kiệt tác ngọc ngà trong trắng của thiên nhiên. Khi ở chùa Quan Âm các, Kiều lại hiện ra như một kẻ cắp. Trong lầu xanh Tú Bà, Kiều vẫn tỏ rõ  phẩm giá của một người trinh tiết. Trong cõi tu hành, Kiều vẫn "rơi châu vắng người" vẫn "ngậm thở nuốt than" vấn vương  những sầu đau tục lụy và vẫn có Thúc thừa cơ "xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng"! Vậy là chùa Quan Âm các kia cũng không phải là cõi đạo đích thực của Kiều, đó chỉ là bóng mát của đạo để Kiều nương tựa, là một thứ nhà tù giam lỏng của Kiều, nằm ở khoảng giữa của phận con hầu và  người tự do.

Nếu như văn hóa Việt có đặc điểm hỗn dung, cộng sinh thì đặc điểm đó bộc lộ rõ rệt nhuần nhuyễn trong đoạn đời Kiều gắn với Thúc Sinh, ở đó Đời và Đạo, Phật và Nho, cái thật và cái ảo, cái gần gũi và cái siêu thoát đan xen vào nhau trong từng cảnh vật, từng lời nói, từng ý nghĩ. Không phải một nghệ sĩ thiên tài bắt nhạy với hồn Việt như Nguyễn Du thì thật khó thể hiện cái đoạn đời vừa cay đắng thi vị bên những con người vừa nôm na, nhu nhược, hiểm độc, khôn ngoan vừa đôn hậu, biết điều, có tình có lý. Khi Kiều ăn cắp đôi kim ngân đến cửa chùa của vãi Giác Duyên, cảnh vật bừng lên lộng lẫy vẻ Thiền:

Cửa thiền vừa cữ cuối xuân
Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời

Cái cảnh tượng huy hoàng ấy cũng là cao trào của cảm hứng Thiền trong Truyện Kiều, nó bừng lên lần cuối để khép lại một chặng đường tâm linh. Ngay sau cảnh tượng lộng lẫy như Đại viện cảnh trí hiện ra trong khoảnh khắc bừng ngộ này, Kiều bị ném trở lại lầu xanh với những tiếng kêu thương cũ thấm đẫm cái nhìn định mệnh của Nho giáo trước khi gặp Thúc Sinh:

"Chém cha cái số hoa đào
Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi
Nghĩ đời mà ngán cho đời
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!"

Khi tiếng kêu ai oán được đẩy lên cung bậc cao nhất, cái Mệnh hiện lên trước mặt Kiều rõ rệt nhất, khi Kiều đã tuyệt vọng, buông trôi:

"Biết thân chạy chẳng khỏi Trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh"

Thì lập tức, y như Bụt hiện sau tiếng kêu thống khổ, Từ Hải xuất hiện ngay như một vị cứu tinh cuốn Kiều vào trong đợt sóng mới của hành động giải phóng, của khát vọng tự do. Kiều được đẩy vào một không gian văn hóa khác hoàn toàn ngược với cõi thiền xưa.

Nếu như ngày xưa "Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời" thì giờ đây "Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường". Cùng với sự đổi ngôi, Kiều đã dấn thân vào một cực của cõi đời, không còn là con người của ba cõi - Cõi Đời, cõi Đẹp và cõi Đạo - như thuở hàn vi trong thế giới của Hoạn Thư

Đỗ Minh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?