Hiến tế - nhìn từ hôm nay!

Qua những chứng cứ khảo cổ học mới nhất, giới nghiên cứu phương Tây khẳng định tục hiến tế người sống có ở nền văn minh Maya - một trong những nền văn minh rực rỡ và đầy bí ẩn của nhân loại.

Tin rằng hạn hán là do thủy thần nổi giận, họ đưa đến giếng thánh cô gái đồng trinh để làm người hầu của thần, để được ăn ngon mặc đẹp, sung sướng, an nhàn. Nay vẫn còn, tại giếng thánh này, người dân bản địa vẫn tái diễn lễ hiến tế ấy. Nhưng không chỉ có ở nền văn minh Maya, tục hiến tế có ở mọi nơi.

Vì nước là tài sản quý giá của tự nhiên không thể thiếu với con người. Hết nước tức là cạn kiệt sự sống. Thế nên sản sinh quan niệm chung ở đâu có nước, ở đó có thủy thần, sông ngòi, biển cả, thậm chí cả giếng nước… Câu tục ngữ Việt “Đất có Thổ công, sông có Hà bá”, thì “Hà bá” là thủy thần, tương đương với thổ công

. Truyện ngụ ngôn “Ba chiếc rìu” của Aesop kể anh chàng đốn củi đánh rơi chiếc rìu sắt xuống sông. Dưới dạng một ông lão, thủy thần hiện lên cầm hai chiếc rìu bằng vàng, bạc hỏi xem rơi chiếc nào. Anh ta nói chỉ rơi chiếc rìu sắt. Thủy thần cho luôn cả ba chiếc rìu vàng, bạc, sắt. Thì ra người thật thà sẽ luôn gặp “quý nhân phù trợ”.

Người Nga có cổ tích “Ông lão đánh cá và con cá vàng” (được Pushkin viết lại) kể ông lão xin con cá vàng cái gì cũng được, nhưng nghe lời bà vợ quá tham lam là xin cho vợ làm vua dưới biển, thì con cá mất dạng. Hiểu theo truyện này thì dưới biển có vua (Long vương). Chẳng cứ người Nga, hầu như dân tộc nào cũng đều có “Long vương”, “Hải vương”… tức vị thủy thần của riêng họ và cùng chung đức tin có ba vị vua, đại để trên trời là Ngọc Hoàng, dưới biển là vua Thủy Tề, trên mặt đất là vua người trần… Trong cổ tích “Thạch Sanh” của Việt Nam, vua Thủy Tề còn tặng Thạch Sanh cây đàn thần!

image001.jpg -0
Giếng thánh nơi hiến tế của người Maya cổ xưa.

Hiến tế ra đời từ thời tối cổ, khi con người chưa hiểu tự nhiên, tin rằng có thần linh, mong muốn có được cuộc sống tốt lành, hạnh phúc. Đó là việc dâng đồ ăn thức uống, vật quý, con vật hoặc người đang sống cho thần linh, thể hiện sự sùng mộ, thành kính mong được ban cho những điều như ý. Như vậy, cái lõi của tục này là nhân văn. Nhưng tại sao ở thời văn minh hôm nay, con người vẫn “hiến tế”, dĩ nhiên theo hình thức khác, ví như chuyện cúng bái mâm cao cỗ đầy, đốt vàng mã với ngựa xe, nhà lầu, thậm chí cả máy bay…? Đấy thuộc về vấn đề khác, nhưng chắc có một lý do là con người vẫn tin có lực lượng thần linh bên cạnh cuộc sống trần gian!? Nhưng tại sao “hiến tế” thủy thần là nhiều nhất, ở nhiều nước, vật tế, thường là trâu?

Xin kể lại một vài huyền thoại của ta. Thời Lý Nhân Tông, có người tên Vũ Phục, cùng vợ nhảy xuống nơi giao nhau giữa sông Tô Lịch và sông Thiên Phù hiến mình cho thủy thần để “ngài” không dâng nước, nhờ vậy thành Thăng Long vẫn yên ổn. Dân bèn lập đền thờ (tức đền Chiêu Ứng thờ Chiêu Ứng Đại vương Vũ Phục thuộc Yên Thái - Tây Hồ nay).

Sử ghi năm 1425, khi quân Lam Sơn qua biển Nghệ An, một đêm Lê Lợi mộng được thần báo xin một thiếp sẽ âm phù việc đánh giặc. Bà Ngọc Trần tự nguyện. Ngày đó nhằm 24 tháng 3, trở thành ngày giỗ của bà… Sách “Công dư tiệp ký” (của Vũ Phương Đề) kể đời Trần có Yết Kiêu (quê Hải Dương, ngày ấy là vùng biển), đêm ấy thấy hai con trâu nước chọi nhau liền dùng đòn gánh mà phang, trâu lặn xuống biển mất tích. Trên đòn gánh còn dính vài sợi lông trâu, bèn nuốt vào bụng, từ đó có tài bơi lặn. Về sau ông giúp Hưng Đạo Vương đuổi giặc Nguyên.

Trong truyện cổ tích “Thạch Sùng” của ta, nhân vật Thạch Sùng cũng nhìn thấy đôi trâu chọi nhau trong đêm trăng mà đoán sắp có lụt to. Chùm truyền thuyết về lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đều có chi tiết hai con trâu từ dưới biển lồng lên rồi chọi nhau. Sách “Đồng Khánh địa dư chí lược” (đời Nguyễn thế kỷ 19) ghi lễ hội này có nguồn từ thần tích “Tước Điểm đại vương” - vị thần râu tóc bạc phơ (màu của sóng biển) chăn hai con trâu. Lễ hội diễn ra mùng 9 tháng 8 âm lịch, thường có mưa gió, tức thời điểm thủy thần hiển linh…

Không chỉ có ở nước ta mà có ở khắp vùng văn minh lúa nước châu Á và miền ven biển Tây Thái Bình Dương, lễ hội chọi trâu thể hiện tín ngưỡng nông nghiệp (cầu mưa, cầu phúc,...), sự yêu mến, quý trọng con trâu. Căn cứ vào thời điểm tổ chức (thường vào dịp trăng sáng) người ta thấy có mối liên hệ giữa trâu với trăng và thủy triều (sừng trâu cong như trăng khuyết, vỏ sừng có các lớp ngấn hình thủy triều; vai, hông có khoáy biểu trưng cho sấm chớp, mưa gió…). Trăng gắn liền với thủy triều (do lực hút của trăng) nên lễ hội chính là một cách tiếp thêm sinh lực cho vũ trụ và con người.

Có ý kiến (GS Trần Lâm Biền) cho rằng hình ảnh hai con trâu chạy từ dưới biển lên rồi chọi nhau tượng trưng cho thủy triều lên, chạy xuống biển tượng trưng cho thủy triều rút. Như vậy gần như có thể khẳng định lễ hội chọi trâu là ánh xạ của quy luật tự nhiên gần gũi mà bí hiểm: thủy triều!

Khoa học hình sự ngày nay còn chứng minh trăng liên quan đến yếu tố tội phạm. Qua khảo sát người ta thấy các hành động phạm tội thường gia tăng vào những đêm trăng sáng - thời điểm tội phạm bị kích thích tâm lý hành động, lại thường không quan tâm tới việc bị phát hiện hay không… Liệu vấn đề này có liên quan tới tục hiến sinh thường tổ chức vào cữ trăng sáng từ thời nguyên thủy, mà “mảnh vỡ” của nó còn “văng” về hôm nay: cúng ngày Rằm (cũng là một dạng hiến tế)!?

image002.jpg -1
Một nghi lễ hiến tế của người Ai Cập cổ đại.

Một đặc trưng của nghi lễ hiến tế là tính thiêng. Vật hiến tế càng quý đồng nghĩa với sự khẳng định tính tối linh của vị thần. Mà thiêng nhất có gì hơn cái chết đâu. Trong muôn loài, có gì quý hơn con người đâu. Thế nên hiến tế người sống (thời tối cổ) mang tính thiêng cao nhất dành cho các vị thần cao nhất, có quyền lực nhất. Trong nhiều truyền thuyết có chi tiết người sống tự nguyện “hiến sinh”, đó là sự cống hiến tuyệt đối. Dần dần vật hiến tế được thay thế bằng con vật, đồ vật… Cả người chủ tế và “vật tế thần” hẳn nhiên được thiêng hóa, phải được chọn lựa, được “thanh tịnh hóa”...

Dễ hiểu có những đền thờ, miếu thờ những người đã “hiến sinh” con người họ vì cộng đồng. Tất nhiên có nhiều sự hiến tế bắt buộc, như vào thời phong kiến hà khắc, tàn nhẫn, phi tần, mỹ nữ bị chôn theo vua… Trong văn hóa Việt, có lẽ chịu ảnh hưởng Phật giáo mà “hiến tế” nhẹ nhàng hơn, là “hiến tế” bằng “cái tâm”, tức lòng thành trong sáng. Thời trước, ngày rằm, ngày giỗ các cụ ta có khi chỉ cúng tổ tiên bằng một nén hương thơm, một quả trứng gà luộc và chén nước lã!

Theo truyền thuyết Việt, vị thủy thần đầu tiên chính là Lạc Long Quân, giống Rồng kết duyên cùng Âu Cơ giống Tiên sinh ra giống nòi Âu Lạc. Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển. Với tâm thức Việt, biển như là cội nguồn tạo sinh ra một “văn hóa biển” rất phong phú. Phù hợp với tâm lý, tính cách và phong tục tập quán cư dân lúa nước, con trâu đi vào văn hóa Việt trở thành hình ảnh quen thuộc, một mã văn hóa cơ bản...

Tượng trâu đất nung được tìm thấy trong các di chỉ Đồng Đậu (niên đại hơn ba nghìn năm). Là tài sản quý (vật chất) lại gần gũi (tinh thần) nên trâu được thiêng hóa thành vật hiến sinh trong các nghi lễ, hội hè... Hình ảnh lễ hội chọi trâu của người Việt cổ được khắc chạm trên trống đồng. Vì thế, hình ảnh trâu từ dưới biển đi lên, cũng không lạ, như là một biểu tượng bước ra từ ngôi nhà văn hóa vậy!

Ở miền núi cũng rất cần trâu, để giúp cày bừa, kéo gỗ, lấy thịt... Như trên đã nói, “vật tế” phải được thiêng hóa, nên con trâu “tế” cũng được coi như một vị thần. Nét nhân văn sâu đậm của lễ tục phát sáng nhất ở điểm này, nhưng ở thời hiện đại hầu như bị bỏ qua nên tục thiêng bị nhìn méo mó, chỉ còn là sự “vô cảm”, “dã man”,… Tây Nguyên có tục đâm trâu, người Thái Tây Bắc có lễ cúng trâu để xin thần linh cho mưa thuận gió hòa bản mường an bình. Ngày thường chăm trâu như người, ngày tế phải đi ba vòng, vừa đi vừa châm đuốc vào trâu (để cúng) với cái ý xua đốt sên, muỗi…, vảy nước vào mình trâu với ý tắm cho trâu sạch sẽ, để thần linh ưng lòng.

Chiểu theo những ý hiểu trên thì lễ tục (hiến tế) không nên cấm mà chỉ nên biến đổi hình thức cho phù hợp. Như một dòng chảy đã có từ ngàn đời, văn hóa có quán tính rất mạnh, không thể ngăn được, chỉ có thể hướng dòng chảy ấy về phía nào có ích hơn, nhân văn hơn mà thôi!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).