Hai bài thơ về trà - hai ý vị nhân sinh

Khác với rượu, thơ về trà có vẻ khiêm nhường hơn. Thường thấy hơn cả là khi trà chỉ được coi là một chi tiết nhỏ trong một câu thơ hoặc một bài thơ. Tuy nhiên, thơ Việt thời hiện đại có hai bài thơ về trà rất ấn tượng và tác giả của hai bài thơ đều là những nhân vật tên tuổi.

Trong các thứ đồ uống mà con người làm ra để phục vụ đời sống sinh hoạt - ẩm thực của mình, rượu và trà có lẽ là hai thứ đồ uống phổ biến hơn cả, có mặt ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới. 

Trong lịch sử thi ca của người Việt từ cổ điển đến hiện đại, những câu thơ/ bài thơ về uống rượu có thể kể đến hàng trăm, hàng ngàn bài. Khác với rượu, thơ về trà có vẻ khiêm nhường hơn. Thường thấy hơn cả là khi trà chỉ được coi là một chi tiết nhỏ trong một câu thơ hoặc một bài thơ. 

Tuy nhiên, thơ Việt thời hiện đại có hai bài thơ về trà rất ấn tượng và tác giả của hai bài thơ đều là những nhân vật tên tuổi. Bài viết này xin được bàn về hai bài thơ uống trà ấy.

Bài thơ về trà thứ nhất là một bài lục bát của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mang tên “Dâng trà”, được viết vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, khi nhà thơ tuổi mới ngoài đôi mươi:

Thưa cha con đã dâng trà
Chiều quê một nửa mái nhà nắng đi
Làng nghèo ngồi đếm chim ri
Con nghèo con đếm thầm thì trong mơ
Con sao tìm lại ấu thơ
Mà roi cha vẫn gác hờ mái hiên
Con từng ba dại bảy điên
Chén trà con rót tràn niềm đắng cay
Phận con nhàu trọn lòng tay
Một câu thơ bạc một ngày vô ơn
Chén trà, con có gì hơn
Mời cha rồi nuốt tủi hờn sau cha
Thưa cha, con đã dâng trà
Sao cha im lặng như là bóng mây
Để hồn trà khuất đâu đây
Xác trà lạnh ngắt đổ đầy lòng con

Bài thơ lục bát gồm mười sáu câu, nhịp điệu chậm rãi, giọng thơ thành kính pha những ưu tư, buồn thương. Cuộc trà chỉ có hai người, cha và con, được diễn ra trong một buổi chiều ở làng quê nghèo, con người cũng nghèo. Nếu chỉ căn cứ trên văn bản bài thơ, đa số người đọc sẽ nghĩ rằng người cha trong bài thơ đã không còn ở trần gian. 

Nghệ thuật thưởng trà.
Nghệ thuật thưởng trà.

Hành động dâng trà của người con – thi sĩ dễ được hiểu là dâng lên bàn thờ cha trong một niềm thương nhớ khôn nguôi về những năm tháng đã qua: “Con sao tìm lại ấu thơ/ Mà roi cha vẫn gác hờ mái hiên”. 

Người con mang trong lòng đầy ân hận và dằn vặt, cảm thấy mình có lỗi vì chưa làm được điều mình mong muốn, cũng có thể là những điều mà người cha mong ước, kì vọng. Thế cho nên đứa con tự trách mình: “Một câu thơ bạc, một ngày vô ơn”. 

Suốt cả cuộc trà, người cha không hề nói một câu. Điều này càng dễ đầy cảm giác của độc giả nghĩ đến việc người cha không còn nữa: “Sao cha im lặng như là bóng mây”. Và rồi cuối cùng chỉ người con ôm trọn những nỗi xót xa trong lòng. 

Người con những tưởng muốn mượn chén trà để bày tỏ lòng hiếu thảo nhưng dường như mục đích đã không thể đạt tới, hồn trà và xác trà chia tách nhau mỗi nơi một nẻo và người con biết rằng cuộc trà này chưa hề trọn vẹn: “Để hồn trà khuất đâu đây/ Xác trà lạnh ngắt đổ đầy lòng con”.

Tuy nhiên, bài thơ còn có một câu chuyện khác. Trong một lần trò chuyện với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, ông đã tâm sự với tôi về hoàn cảnh ra đời bài thơ. Ông kể ngày đó mới ra trường, còn rất nghèo bởi đồng lương ít ỏi. Một ngày nọ, ông kiếm được một ấm trà ngon, mang về quê để biếu cha, dâng lên cha và coi đó là món quà quý giá nhất mà mình có thể làm được trong thời điểm ấy. Như vậy, lúc đó thân phụ của nhà thơ vẫn còn tại thế. 

Thế nhưng, trước sự cung kính cẩn trọng của đứa con khi dâng trà/ mời trà, người cha chỉ im lặng. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều kể lại, lúc đó, điều cha tôi muốn có lẽ là tôi cần trưởng thành trong chính suy nghĩ của mình, cách nghĩ của mình. Và cái mà người cha cần nhất, không phải là đứa con phải trở nên thật giàu có (dù hiện tại cả con và cha cùng nghèo) mà là đứa con phải sống làm người tử tế. Cái lặng đi của đứa con trong những câu thơ cuối bài cũng là cái lặng người đi khi hiểu cái ý vị, tinh thần của người cha muốn truyền sang cho mình.

Như vậy, qua chén trà, mỗi con người có thể suy ngẫm và soi lại bản thân, nhớ về những gì đã qua, hiểu tấm lòng những người thân yêu nhất của mình và hiểu được cả những điều không nói thành lời.

Nếu như cuộc trà trong bài thơ của Nguyễn Quang Thiều là một cuộc đối ẩm với bậc bề trên (người cha) đầy thành tâm và cung kính thì cuộc trà trong bài thơ của nhà thơ Trần Đăng Khoa lại là một cuộc đối ẩm bình đẳng giữa hai người bạn. Bài thơ “Thưởng trà đầu xuân cùng bạn” được Trần Đăng Khoa viết dành tặng nhà báo Hoàng Anh Sướng, chủ nhân hiên trà đạo Trường Xuân, 13 Ngô Tất Tố, Hà Nội:

Nhấp chén trà thứ nhất
Da thịt bỗng tỏa hương
Đời thực thành cõi mộng
Trần gian hóa thiên đường

Ta nâng chén thứ hai
Cho đất trời tinh khiết
Tâm ta bừng sáng ra
Biết thêm điều chưa biết

Mai sau đời dẫu tuyệt
Chắc gì hơn lúc này
Nào châm thêm chén nữa
Hai đứa mình cùng… bay…

Nếu như ở bài thơ của Nguyễn Quang Thiều, âm hưởng buồn thương, xa xót đóng vai trò là chủ âm thì ở bài thơ năm chữ này của Trần Đăng Khoa, tinh thần chủ đạo là sự hào sảng, phóng khoáng. Hai người bạn uống trà như một thú vui tao nhã, một thưởng thức ẩm thực thanh cao, nhờ chén trà để thăng hoa, như bước vào một thế giới khác. 

Quả như người xưa đã từng nói: Muốn say uống rượu, muốn tỉnh uống trà. Rượu thường lấy động làm trọng, trà lại thường lấy tĩnh làm trọng. Uống trà để bình tâm hơn và cũng là để sáng suốt hơn: “Tâm ta sáng bừng ra/ Biết thêm điều chưa biết”. 

Bài thơ của Trần Đăng Khoa chia làm ba khổ, mỗi khổ tương ứng với một lần rót trà. Lần rót thứ nhất thăng hoa về không gian, về thân xác. Lần rót thứ hai thăng hoa về trí tuệ. Và lần rót cuối cùng cũng là khép lại bài thơ, ấy là khi cả chủ và khách, cả hai người bạn dường như đạt đến sự thấu hiểu của trà đạo. Đó cũng là một thăng hoa vô lượng của thế giới tinh thần. Lẽ thường người ta thường nhờ rượu mới có thể say, song hai người bạn ở đây đã qua chén trà mà say đạo, say đời, say đắm với tình tri âm tri kỷ, cũng là tình yêu cuộc sống.

Có một câu chuyện khá thú vị liên quan đến bài thơ của Trần Đăng Khoa. Đó là sau khi bài thơ được công bố lần đầu vào tháng 2-2009 trên Báo Công an Nhân dân, 10 năm sau, một tác giả tên là N.C.C, hội viên Hội VHNT Bắc Ninh đã công bố bài thơ mang tên “Uống trà cùng bạn” trên Tạp chí Người Kinh Bắc của tỉnh, nội dung bài thơ gần như y nguyên bài của Trần Đăng Khoa, chỉ khác là được chuyển sang thể lục bát:

Ta ngồi nhấp chén trà xuân
Rưng rưng da thịt thấy dần tỏa hương
Trần gian bỗng hóa thiên đường
Đời là thực đấy mà dường như mơ

Ta nâng chén với bạn thơ
Không gian xanh đợi nắng chờ vàng ong
Tâm ta bừng dậy niềm mong
Thêm điều chưa biết cho lòng sáng ra

Mai đời đẹp tựa ngàn hoa
Chắc gì hơn được như ta lúc này
Nào thêm chén nữa cho say
Nghiêng nghiêng hai đứa cùng bay giữa trời

Chuyện đến tai nhà thơ Trần Đăng Khoa, ông khen tác giả N.C.C chuyển thể lục bát nhuần nhuyễn nhưng có lẽ không phải là người hiểu về trà, nên qua hai câu cuối đã biến trà thành rượu. Việc bài thơ có hai phiên bản này đã trở thành một giai thoại vui trong làng văn.

Hai bài thơ về trà của Nguyễn Quang Thiều và Trần Đăng Khoa đều là những bài thơ hay, mỗi bài đem đến cho ta một ý vị nhân sinh. Người thì qua trà mà soi lại lòng mình, nhờ trà bày tỏ tình cảm nỗi niềm của mình; người thì lại qua trà để kết giao tri âm tri kỷ, nhờ trà mà thêm thăng hoa trong cuộc sống. Thế mới biết, bên cạnh rượu, trà cũng góp phần để làm nên bao thi vị, khiến cho những tác phẩm thi ca được sinh ra như những đóa hoa đẹp trao tặng cho đời.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).