Đừng để phục cổ thành... “lộn cô”

Hoài cổ, điều không quá khó hiểu. Hoài cổ, về đại thể, có thể tạm hiểu với nghĩa là sự ôm ấp những “vang bóng một thời”, là nhớ tiếc những giá trị đã thuộc về quá khứ, quá khứ của một người hoặc quá khứ của một cộng đồng người.

Hoài cổ không phải phẩm chất đặc quyền của riêng ai. Nó tựa như hạt mầm tiềm ẩn trong bản thân mỗi cá nhân, dẫu vẫn có sự phân biệt người ít kẻ nhiều, người đậm kẻ nhạt. Với lòng hoài cổ có sẵn, khi hội đủ những điều kiện cần thiết, người ta sẽ tiến hành “phục cổ”. Tức là triệu về những bóng ma của lịch sử. Hay nói một cách bớt ảm đạm hơn, là làm sống lại vẻ huy hoàng của những cái “ngày xưa” ngỡ đã bị đất cát thời gian phủ lấp.

Ngẫm cho cùng thì cũng giống như con phượng hoàng lửa trong truyền thuyết, mỗi lần được tái sinh, cái “ngày xưa” sẽ từ đám tro tàn của nó bước ra với đầy sinh lực và sự tươi mới. Sự sống lại của những giá trị văn hóa Hy Lạp, La Mã thời cổ đại giữa lòng châu Âu thời Phục hưng chẳng là một ví dụ tuyệt vời đó sao?

Nhưng nếu phục cổ với một hành trang nhận thức quá nghèo nàn về cái gọi là “cổ”, thì coi chừng, lòng hoài cổ đáng yêu kia sẽ chính là đầu mối dẫn tới sự “lộn cổ” đầy tai hại. Hiện nay, trong đời sống, không ít những thứ “na ná cổ”, những “bản sao cổ” được làm bằng giấy xấu và mực xấu đang xuất hiện nhan nhản, chúng ở quanh ta, đang vây bủa chúng ta. Việc trùng tu, tôn tạo các di tích kiến trúc cổ có lẽ là một trong những ví dụ dễ thấy nhất.

Báo chí đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để tỏ nỗi bất bình về kiểu phục cổ đang diễn ra ở đây. Đình, đền, chùa, miếu... những không gian thiêng trong đời sống xã hội và trong tâm thức của người dân Việt Nam tự bao đời, sau một thời gian dài bị “chuyển đổi chức năng sử dụng”, hoặc đơn giản là bị bỏ mặc cho mối mọt và mưa nắng tàn phá, nay đang được cấp tập trùng tu. Công trình nào chưa xong thì tạm thời không bàn, nhưng với đa phần những công trình đã được nghiệm thu, quả thực, sản phẩm cuối cùng khiến ai nấy cũng phải giật mình: đó là cuộc hôn phối lem nhem giữa cái cũ và cái mới, giữa hình thức và vật liệu, giữa ý nghĩa ban đầu của di tích và ý chí bột phát của người đương thời.

Dường như những người chịu trách nhiệm phục cổ ở lĩnh vực này không thèm quan tâm tới chuyện phải tìm hiểu, phải nghiên cứu tính đặc thù trong diện mạo và cấu trúc nguyên thủy của di tích kiến trúc, và phải tôn trọng nó. Cứ mù mờ như thế, họ bắt tay vào công việc trùng tu với sự hăm hở chỉ có ở những kẻ phá hoại. Họ khai tử di tích kiến trúc nhân danh sự phục cổ. Có thể rồi sẽ đến lúc, khi đứng trước các công trình đã được trùng tu, người Việt Nam phải thốt lên đầy thất vọng: di tích kiến trúc cổ của chúng ta là thế này sao?

Đừng để phục cổ thành... “lộn cô” -0
Chùa Trăm gian (tức chùa Tiên Lữ, ở Chương Mỹ, Hà Nội) một công trình kiến trúc được lập từ thời Lý. Sau đợt trùng tu 100 ngày năm 2012 đã biến dạng rất nhiều. Đây là ảnh khi chùa chưa trùng tu.

Việc trùng tu, tôn tạo các di tích kiến trúc có thể được coi như một trường hợp về sự phục cổ ở khu vực “văn hóa vật chất”. Còn ở khu vực “văn hóa tinh thần” thì sao? Người viết bài này chỉ chọn lấy một ví dụ để bàn: đó là ca trù, thứ nghệ thuật độc đáo bậc nhất, hàn lâm bậc nhất trong kho tàng âm nhạc cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Chẳng cần đợi đến khi ca trù được UNESCO công nhận là “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp” (ngày 1/10/2009), mà ngay từ trước đó vài năm, với sự dâng cao của ngọn triều phục cổ, ca trù đã tái xuất hiện trong đời sống sau hơn nửa thế kỷ phải chịu cảnh bặt tiếng vì những định kiến xã hội không đáng có.

Nhưng phát triển thực sự, thì phải kể đến dấu mốc là “tấm bằng” của UNESCO. Các giáo phường mọc ra, tuy chưa đến mức như nấm sau mưa, nhưng cũng kể là nhiều. Điều đáng nói là ở chỗ, theo những nhà nghiên cứu ca trù giàu uy tín, may lắm thì chỉ một trong số các giáo phường ca trù ấy mới cung hiến cho khán giả thứ ca trù nguyên bản, ca trù đúng là ca trù. Còn lại, chỉ là những thứ “ca chù” hoặc “ca rù” vớ vẩn nào đó.

Để lý giải hiện tượng này, người ta nói đến quãng thời gian im hơi bặt tiếng quá lâu của ca trù trong đời sống: không được hát, tinh túy của nghề ắt bị rơi rụng. Điều đó đúng với ca trù, nhưng chưa đủ để cắt nghĩa cho “ca chù” hoặc “ca rù”. Vì thế, có lẽ phải tính thêm ở đây cả cái tâm lý phục cổ theo kiểu ăn xổi, hay nói cho sát với bản chất của sự việc, là thói trục lợi bằng cách mượn danh ca trù đích thực. Thay vì việc phải khổ học để trở nên tinh thục, người ta lại mau chóng bày cuộc đi hát kiếm tiền bằng mấy ngón nghề học vội trong vòng vài tháng, một năm.

Cái nguy hại trước mắt là việc khán giả giàu tình hoài cổ phải bỏ tiền thật để nghe ca trù không thật. Nhưng cái nguy hại lâu dài lại ở điểm này: không còn người nắm được chân truyền, ca trù sẽ ngày một sai lạc, ngày một xa lạ với chính nó. Đó là cái chết từ từ nhưng không sao cưỡng lại được nếu những cơ quan chức năng hay những cá nhân có trách nhiệm không nhanh chóng thực hiện việc phục cổ với ca trù cho thật đúng, thật trúng.

Nhiều năm trở lại đây, cứ mỗi độ xuân về Tết đến, trên các vỉa hè Hà Nội, nhất là đoạn đường bao quanh Văn Miếu Quốc Tử Giám, người ta lại thấy xuất hiện các ông đồ - già có, trẻ có - cũng đủ bộ áo the khăn xếp, mực tàu bút lông giấy bản, trải chiếu bán chữ Nho. Người xem người mua đứng vòng trong vòng ngoài, ăm ắp đông vui, mắt sáng lên khi đưa tiền ra lấy chữ về. Cái cảnh ấy không khỏi khiến những người nặng lòng hoài cổ phải xúc động, vì chữ nghĩa thánh hiền đã trở nên “có giá”.

Chẳng hẹn mà nên, hầu như ai nấy cũng đều lẩm nhẩm vài câu thơ xưa cũ của thi sĩ Vũ Đình Liên: “Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu giấy đỏ/ Bên phố đông người qua”... Các phương tiện thông tin truyền thông, vốn mau mắn, đã vui mừng thốt lên rằng đó là sự sống lại của một nét đẹp trong văn hóa cổ truyền. Dường như ít ai chịu nhớ, khi tự nói về bài thơ “Ông đồ”, Vũ Đình Liên đã không nói rằng hình ảnh ông đồ là một hình ảnh đẹp, mà: “Ông chính là cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn” (Lời Vũ Đình Liên trong một bức thư gửi cho Hoài Thanh). Và, hoàn toàn có thể tin là tác giả “Thi nhân Việt Nam” không bỗng dưng mà hạ một câu bình luận như sau về hình ảnh này: “Tôi tưởng như đọc lời sám hối của cả bọn thanh niên chúng ta đối với lớp người đương đi về cõi chết”.

Chẳng có gì khó hiểu cả, ông đồ trong thơ Vũ Đình Liên là ông đồ của cái thời mà chế độ khoa cử Hán tự đã bị bãi bỏ hai mươi năm, Nho học gần như chết hẳn, nhà Nho bị gạt ra bên lề cuộc tiến hóa của xã hội, trở thành một kiểu người thừa. Không được trang bị bất cứ một thứ năng lực nào để đi cùng với đời sống hiện đại, những ông đồ cuối cùng còn sót lại chỉ có thể làm được một việc thôi: cải thiện cuộc sống khốn khó của mình bằng cách mang bồ chữ nghĩa thánh hiền rời làng quê, ra vỉa hè thành thị, bán chữ mua vui cho kẻ thị dân khi xuân về Tết đến. Với sự khủng khỉnh đã trở thành thuộc tính của nhà Nho, ấy là cảnh mạt vận, là điều cực chẳng đã. Ra vỉa hè bán chữ, đồng nghĩa với nuốt tủi nhục vào trong.

Nói vậy không phải người viết có ý coi thường các ông đồ hiện đại. Xét cho cùng, thời nào cũng có những nhu cầu của nó. Có nhu cầu, ắt có sự đáp ứng nhu cầu. Có người muốn mua chữ ngoài phố, ắt có người viết chữ bán ngoài phố. Nhưng chẳng thể vì thế mà bảo rằng đó là “sự sống lại của một nét đẹp trong văn hóa cổ truyền”. Nếu ông đồ trong thơ Vũ Đình Liên sống lại, hỏi ông, chắc không đời nào ông công nhận việc mình bò toài trên vỉa hè viết chữ cho thiên hạ kiếm tiền là một “nét đẹp văn hóa cổ truyền”.

Khi bàn về văn hóa Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự đứt gẫy của văn hóa cổ truyền trong thế kỷ XX và những hệ lụy trầm trọng, lâu dài của nó. Hệ lụy, chứ không phải nguyên nhân, mới là điều liên quan trực tiếp tới vấn đề đặt ra trong bài viết này. Với ba ví dụ, trong rất nhiều ví dụ sẵn có, có lẽ đã đủ để những ai hoài cổ và quan tâm nghiêm túc đến chuyện phục cổ phải giật mình.

Tôn vinh những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, phục cổ, hàn gắn lại những đứt gẫy văn hóa, đó là điều vô cùng cần thiết, nhất là trong bối cảnh chúng ta “hòa nhập nhưng không hòa tan” - một câu slogan thời thượng - với thế giới. Nhưng phục cổ khi không/ chưa hiểu cho đúng và đủ về cái cổ, phục cổ một cách nôn nóng, thậm chí, phục cổ với tinh thần trục lợi kiểu gian thương v.v... thì thật nguy hiểm. Phục cổ kiểu ấy, với mục đích ấy, không gì khác, sẽ là con đường nhanh nhất đưa lòng hoài cổ đến sự “lộn cổ”. Và có thể, chính cái đó sẽ lại là đầu mối của một sự đứt gẫy văn hóa mới, nguy hại hơn gấp bội.

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).