Đi tìm bản sắc Việt trong mỹ thuật ứng dụng đương đại

Thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, mỹ thuật ứng dụng càng có đất để phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt lớp học, khóa đào tạo liên quan đến các chuyên ngành như đồ họa, tạo dáng, trang trí nội ngoại thất... đua nhau ra đời. Nhưng chính sự phát triển ồn ào và đại trà đó đang đẩy mỹ thuật ứng dụng đương đại Việt vào chỗ bản sao của thế giới mà nhạt nhòa đi hương sắc riêng có.

Giữ gìn văn hóa truyền thống trong các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng là một vấn đề nổi bật được đưa ra thảo luận tại Hội thảo khoa học toàn quốc "Đổi mới đào tạo Mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam - Từ thực tiễn đến giải pháp" diễn ra ngày 25-6 tại TP Hồ Chí Minh. Bước vào kỷ nguyên kỹ thuật số, mỹ thuật ứng dụng không ngừng nâng cao vị thế của mình trong đời sống xã hội, trực tiếp phản ánh cụ thể những giá trị văn hóa - thẩm mỹ - nghệ thuật của đời sống đương đại. Nó tạo ra các sản phẩm phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế sản xuất hàng hóa, đóng góp vào việc giáo dục, nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho cộng đồng.

Theo nhà thiết kế Vũ Hiền, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thiết kế mẫu và Sáng tạo mỹ thuật Việt Nam (Hiệp hội Design Việt Nam), sở dĩ có tình trạng phát triển ồ ạt này bởi có cầu thì mới có cung. Kinh tế thị trường mở cửa, hàng loạt công ty quảng cáo ra đời, nhiều nhà máy, xí nghiệp, nhà sản xuất hàng tiêu dùng có nhu cầu thiết kế mẫu mã mới. Tốc độ đô thị hóa cũng giúp nghề trang trí nội ngoại thất, thiết kế thời trang trở nên sáng giá… Tuy nhiên chất lượng sản phẩm lẫn nguồn nhân lực của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu mạnh mẽ trên.

Hội thảo "Đổi mới đao tạo mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam".
Hội thảo "Đổi mới đao tạo mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam".

Sản phẩm mỹ thuật ứng dụng Việt hiện nay đa số bắt chước kiểu cách "design ngoại nhập" trong khi hàng xuất khẩu lại không thể hiện được giá trị thẩm mỹ mang bản sắc Việt mà chỉ thực chất là gia công rập khuôn theo mẫu hoặc nhái theo thương hiệu ngoại quốc.

Ngoài ra, từ sản xuất thủ công nhỏ lẻ đột ngột chuyển sang sản xuất công nghiệp khiến sự đặc sắc của các làng nghề thủ công biến mất quá nhanh. Bởi theo thạc sĩ Hoàng Lê Duy, giảng viên Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, những làng nghề truyền thống và thủ công mỹ nghệ là cội nguồn của văn hóa cha ông và là nền tảng dân tộc tính của design Việt.

Người Nhật có nhiều nhà thiết kế nổi tiếng đã đưa dân tộc tính của mình chinh phục bạn bè thế giới. Chẳng hạn như Yayoi Kusama với những họa tiết chấm bi lớn nhỏ trong sản phẩm thiết kế của bà. Chấm bi là hình ảnh của mặt trời, là biểu tượng của năng lượng toàn thế giới cũng như cuộc sống con người. Đồng thời chấm bi còn là hình ảnh của mặt trăng, biểu trưng của sự tĩnh lặng. Nó tròn, mềm mại và đầy màu sắc nối liền với nhau như đang chuyển động đến vô hạn… Những chấm bi của bà đã đến các bảo tàng ở Mỹ và làm say đắm người thưởng lãm bởi tinh thần đầy ắp năng lượng của đất nước mặt trời mọc.

Họa sĩ Huỳnh Văn Mười, Chủ tịch Hội Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh cho rằng nghệ thuật không có địa chỉ là nghệ thuật mất gốc. Cái được gọi là địa chỉ nghệ thuật, địa chỉ của tác phẩm chính là cá tính, cái độc đáo mà bản thân người nghệ sĩ tạo ra trong tác phẩm, làm cho nó không bị nhòa lẫn với tác phẩm của người khác và qua đó bộc lộ cái hồn cao nhất là tính dân tộc.

Mỹ thuật gồm hai nhánh lớn là Mỹ thuật tạo hình và Mỹ thuật ứng dụng. Mỹ thuật ứng dụng bao gồm ba lĩnh vực chuyên sâu: Nghệ thuật trang trí, Nghệ thuật thủ công, Nghệ thuật thiết kế. Trong đó, mỹ thuật tạo hình và nghệ thuật thủ công là mảnh đất dễ làm bật dậy cái riêng, cá tính của nghệ sĩ, hàm chứa tính dân tộc rõ nét hơn so với nghệ thuật trang trí và nghệ thuật thiết kế. Bởi khi sáng tác loại hình mỹ thuật tạo hình, ngoài băn khoăn về nội dung tư tưởng, khả năng hình tượng hóa thì người nghệ sĩ gần như được tự do tuyệt đối trong sáng tạo. Anh ta không phải lo lắng tác phẩm của mình có ai mua không, treo ở đâu, giá thành thế nào...?

Còn nghệ thuật thủ công thì vốn gắn liền với nghệ thuật truyền thống theo kiểu truyền nghề của một quốc gia, dân tộc, vùng miền nên mang nét đặc sắc riêng.

Riêng nghệ thuật trang trí và nghệ thuật thiết kế thì khi sáng tạo, nghệ sĩ không thể tự do tung tẩy theo ý mình mà phải đáp ứng được các nhu cầu khách quan khác như: Tác phẩm này dùng trong môi trường nào, không gian ra sao là phù hợp, đối tượng khách hàng tiềm năng là ai, họ sống ở xã hội nào...? Vì gắn nhiều với yếu tố thương mại nên họ phải quan tâm đến khách hàng mục tiêu của mình.

Ở góc độ này, trong nền kinh tế thị trường và giao lưu hội nhập quốc tế, tính dân tộc tồn tại trong cả hai chủ thể: Bản thân nghệ sĩ và khách hàng. Nếu cần tô đậm tính dân tộc của khách hàng thì nhà thiết kế không được áp đặt cái riêng của dân tộc mình lên bởi khách hàng khó chấp nhận trừ khi họ cùng chung một quê hương như nhà thiết kế.

Ở trường hợp logo thương hiệu, một loại hình của mỹ thuật ứng dụng đương đại, tiến sĩ Trần Thị Thúy Vân, Học viện Chính trị Khu vực 2 cho rằng, những chất liệu văn hóa truyền thống được nhà thiết kế khéo léo chuyển tải thông qua logo sẽ tạo nên sự cộng cảm, tin tưởng của người tiêu dùng.

Nắm vững quy luật ấy nên nhiều nhà thiết kế nước ngoài đã có được sự thành công ngay chính thị trường Việt Nam. Người thiết kế logo mới của thương hiệu Viet Nam Airline chính là họa sĩ người Mỹ gốc Nhật Victor Kubo. Để có được logo là hình ảnh bông sen màu vàng nổi bật, Victor Kubo đã bỏ nhiều thời gian và tâm sức tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Hoa sen được xem là quốc hoa của người Việt, biểu tượng cho sự thanh cao, khát vọng vươn lên của con rồng cháu tiên. Do đó, logo này nhận được sự đồng thuận mạnh mẽ từ khách hàng.

Học hỏi điều này, đã có nhiều nhà thiết kế trong nước đem chất liệu truyền thống để thổi cảm hứng cho các tác phẩm của mình. Mới đây nhà thiết kế Công Trí cho ra mắt bộ sưu tập váy áo có họa tiết giỏ tre đan lát. Tại Liên hoan phim Cannes 2016, Angela Phương Trinh được ống kính quốc tế chú ý vì trang phục in họa tiết tranh Đông Hồ, đầu đội khăn vấn Bắc kỳ, đặc biệt là chiếc ví cầm tay gây ấn tượng mạnh vì hình ảnh chú gà đặc trưng của tranh Đông Hồ.

Một số sản phẩm mỹ thuật ứng dụng.
Một số sản phẩm mỹ thuật ứng dụng.

Nếu lĩnh vực thiết kế thời trang gặt hái nhiều thành công thì ở những lĩnh vực khác của mỹ thuật ứng dụng như trang trí, đồ nội ngoại thất, logo..., tính dân tộc xuất hiện khá mờ nhạt, không đủ sức biến thương hiệu thành biểu tượng.

"Theo nghiên cứu của chúng tôi, khi được hỏi "người tiêu dùng có ủng hộ các logo của thương hiệu khi dùng các chất liệu, biểu tượng văn hóa dân tộc" thì có tới gần 70% người rất ủng hộ. Và để thế giới làm quen và có thể giải mã được ý nghĩa các biểu tượng này thì cần đến hệ thống truyền thông, quảng cáo" - TS Trần Thị Thúy Vân nói.

Ông Marc Pechart, Quản lý học vụ của Học viện thiết kế ADS phân tích: "Nói đến các biểu tượng truyền thống của Việt Nam người ta hay nhớ đến hoa sen, cậu bé mục đồng trên lưng trâu, bánh chưng, dưa hấu, cây tre, thư pháp, tháp, chùa…

Đã có những nhà thiết kế đưa hình ảnh tháp, chùa cùng những dòng chữ cách điệu kiểu thư pháp để làm nên dấu ấn riêng của mình. Tuy nhiên sự sáng tạo này vẫn còn hạn chế vì họ vẫn chuộng các thiết kế ngoại lai với kỹ thuật tiên tiến. Nhà sản xuất không bắt tay cùng nhà thiết kế để quảng bá. Riêng tính dân tộc, không ít nhà thiết kế bê y nguyên hình ảnh di sản vào sản phẩm mà ít có sự đột phá mới mẻ".

Bà Mã Thanh Cao, nguyên Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Bản sắc dân tộc, nền văn hóa của cha ông phải thấm nhuần vào từng hơi thở, vào máu của người thiết kế thì họ mới có thể bức phá trong sản phẩm. Nếu không, đó chỉ là rập khuôn máy móc, bắt chước những gì đã có thì rất nhàm chán, đơn điệu".

Vì vậy, giới chuyên môn đề xuất: để nhà thiết kế thật sự tâm huyết với ý tưởng đưa hồn dân tộc vào trong sản phẩm thì các chương trình đào tạo mỹ thuật ứng dụng cần triển khai nhiều chuyên đề về văn hóa truyền thống, bảo tồn và phát huy làng nghề truyền thống... Người học phải coi việc tiếp nhận đó là nhu cầu tự thân và say mê, yêu cội nguồn thì lúc đó chất liệu văn hóa ấy mới thấm được vào trong tay nghề của họ một cách tự nhiên và hiệu quả.

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).