Thông tin này mới được công bố trên tạp chí chuyên ngành rất có uy tín xuất bản ở Mỹ Cloning and Stem Cells và được Tạp chí Nga Itogi số ra trung tuần tháng 7 này tường thuật lại.
Tác giả của kết quả thí nghiệm trên là các nhà bác học Nga ở Trung tâm sản khoa và phụ khoa thuộc Hãng Hỗ trợ y học công nghệ cao (FGU) và các nhà khoa học làm việc cho công ty đổi mới công nghệ Lifeline Cell Technology của Mỹ.
Một số người coi kết quả thí nghiệm khoa học trên là sự “cưỡng bức thiên nhiên”, còn một số người khác lại đánh giá nó như một thành tựu mang tính cách mạng trong công nghệ gien.
Mới nhưng cũ
Nếu suy nghĩ một cách sâu xa, có thể thấy rằng phương pháp tự thụ thai hoàn toàn không phải chuyện gì quá lạ lẫm trong đời sống tự nhiên. Một số loài chim muông, bò sát, côn trùng từ hàng nghìn năm trước cho tới hôm nay vẫn duy trì nòi giống của chúng bằng phương pháp tự sinh sản.
Dường như bà mẹ thiên nhiên đã thủ sẵn bảo bối này cho những tình huống bất khả kháng, khi các thảm họa xảy ra có thể khiến giống này hay loài khác chỉ còn độc một phái.
Các nhân viên ở các vườn bách thú thỉnh thoảng cũng phải chứng kiến những trường hợp như thế xảy ra: Có khi một con kỳ đà cái dù không có con đực vẫn tự mình đẻ trứng, hay có con cá mập cái sống giữa toàn những con cái khác mà vẫn sinh ra được con (trong trường hợp cuối cùng, khả năng tự thụ thai đã được khẳng định thông qua xét nghiệm ADN).
Các chuyên gia còn biết tới trường hợp tế bào trứng trong cơ thể người phụ nữ do tác động của stress, nhiệt độ cao hay những tình huống bất thường có thể bỗng dưng tự phân tách.
Có điều, mỗi khi gặp phải những trường hợp thụ thai kỳ dị như vậy, các nhà bác học luôn cảnh báo rằng làm như vậy đối với sinh vật bậc cao thì khó có thể nói là sinh sản bình thường.
Trong những tình huống đó, sinh vật con không được tiếp nhận ADN của sinh vật cha mà chỉ được thừa hưởng bản sao kép một nửa bộ gien của sinh vật mẹ. Nhìn theo góc độ này, sự tự thụ thai hoàn toàn không có nghĩa là không kèm theo phế phẩm.
Theo Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học Nga Rem Petrov, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về sinh học, khi trao đổi với phóng viên Tạp chí Itogi, ngược lại, trong những cơ thể của các sinh vật xuất hiện nhờ tự thụ thai, những khiếm khuyết về gien rất dễ bộc lộ. Những gien phế phẩm, thường "ngủ" trong các cơ thể bình thường, rất dễ ngóc đầu dậy gây hại cho cơ thể.
Có lẽ chính vì thế nên các phôi thai của động vật có vú, xuất hiện nhờ phương pháp tự thụ thai, rất hiếm khi tồn tại tới giai đoạn cuối của sự trưởng thành - mẹ thiên nhiên ở ngay những giai đoạn phát triển đầu đã loại bỏ chúng ra khỏi cuộc sống.
Những cố gắng của các nhà nghiên cứu và các nhà lai tạo giống để có được hậu duệ của các động vật có vú nhờ phương pháp tự thụ thai trong suốt một thời gian dài đều đã không thành công, mặc dù nhà động vật học người Nga Aleksandr Tikhomirov ngay từ năm 1886 (!) đã lần đầu tiên tạo ra được ấu trùng từ con ngài không thụ thai.
Trường hợp ngoại lệ duy nhất đã có là sự xuất hiện cách đây vài năm của con chuột Nhật Bản Kaguy mà thân sinh của nó là hai con chuột cái. Tuy nhiên, ngay khi đó các nhà khoa học cũng công nhận rằng họ đạt được kết quả này một cách cực kỳ không dễ dàng. Để có được Kaguy, các nhà khoa học đã phải "tàn phá" tới 497 noãn cầu chuột.
Các nhà khoa học Mỹ cũng đã có những đóng góp theo hướng này. Họ đã tạo ra được những phôi thai từ những noãn cầu khỉ. Tạp chí New Scientist ngay từ năm 2003 đã tiên đoán, một khi thí nghiệm thành công với khỉ và chuột thì có nghĩa là có thể hy vọng vào kết quả khả quan đối với cả người nữa.
Mọi sự đã không diễn ra nhanh chóng như mong đợi vì sau đó, nhiều thí nghiệm tự thụ thai cho các noãn cầu của con người đã không thành công - những phôi thai thu nhận được kém sức sống tới mức các tế bào tách ra từ chúng chỉ tồn tại được vài ba ngày thì chết.
Tuy nhiên, chính sự việc này đã càng thêm thôi thúc các nhà khoa học vì họ nhìn thấy trong đó cách giải quyết nhiều vấn đề thuộc về đạo lý--PageBreak--
Đẹp đạo, đẹp đời
Tại sao các nhà khoa học lại muốn đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu phương pháp tự thụ thai? Ngay từ khi con cừu Dolly xuất hiện, dư luận xã hội đã ngay lập tức nhìn nhận một cách đầy tính phê phán đối với từng bước đi trong công nghệ nhân bản, công nghệ gần như là duy nhất hiện nay cho phép có những tế bào phôi rất cần cho các phương pháp chữa bệnh mới.
Tại một số quốc gia đang gia tăng sức ép từ phía các nhà khoa học đối với chính quyền đòi bãi bỏ điều luật cấm áp dụng công nghệ nhân bản. Tuy nhiên, không thể không để ý tới những lý lẽ của những lực lượng ủng hộ việc duy trì lệnh cấm đó. Nhìn từ góc độ đạo lý, không thể nào lấy được tế bào từ phôi mà không làm chết bào thai.
Nhìn từ góc độ khác, nếu có được các tế bào, "kho lưu trữ vĩnh cửu sự sống" đó, có thể phát triển thành bất cứ một mô nào trong cơ thể, thì rất nhiều bệnh nhân đang mắc những trọng bệnh hiện nay sẽ được cứu sống dễ dàng hơn. Làm sao cho đẹp đạo, đẹp đời?
| Lãnh đạo thí nghiệm trên là một nhà khoa học nữ người Nga, Elena Revazova, trước khi sang cư trú ở Mỹ đã làm việc tại Moskva. Phần lớn đồng tác giả với bà Revazova trong thí nghiệm này cũng là người Nga. Cung cấp các noãn cầu cho thí nghiệm là 5 người phụ nữ Nga. Họ là những phụ nữ cần chữa bệnh vô sinh nhưng lại không có tiền để thanh toán viện phí. Giải pháp thỏa hiệp ở đây là thay vì trả tiền cho việc chữa bệnh vô sinh, họ phải cung cấp cho thí nghiệm những noãn cầu của mình. |
Trong tình huống này, phương pháp tự thụ thai đối với nhiều người được coi như một giải pháp tháo gỡ bế tắc trong mớ bòng bong các mâu thuẫn đạo lý đầy phức tạp.
Thực sự, nếu như có thể tách được các tế bào thân lấy từ các phôi tự thụ thai thì đó sẽ là câu trả lời thỏa đáng đối với những ai phản đối phương pháp này: đơn giản là vì các bào thai có những tế bào ấy dù không ai động vào cũng hoàn toàn không thể tồn tại tiếp được để trở thành người!
Nhiều nhóm nghiên cứu đã thi nhau làm việc theo hướng trên suốt mấy năm nay. Học đòi thiên nhiên, các nhà khoa học đã cố gắng tạo dựng trong điều kiện phòng thí nghiệm những điều kiện bất thường tương tự để noãn cầu người có thể tung ra "phương án dự phòng" và với nhận thức là không có hy vọng gì cho việc bảo tồn nòi giống một cách bình thường, sẽ tự thụ thai.
Các tế bào đã được đưa vào môi trường kiềm và môi trường axít, bị tấn công đủ kiểu bằng dòng điện… Tức là phải trải qua mọi thử thách lửa, nước và ống đồng.
Và bây giờ, mọi sự ganh đua đã lùi lại phía sau. Các nhà khoa học hiện nay đang chăm chú nghiên cứu kết quả thí nghiệm của những người về đích trước tiên và cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân đã dẫn tới thành công đó.
Theo lời lãnh đạo phòng thí nghiệm cơ sở gien của các công nghệ tế bào thuộc Viện Gien học tổng quát (Viện hàn lâm Khoa học Nga) Sergey Kiseliov, hiện vẫn chưa rõ là những quyết định mang tính nhảy vọt nào đã được thông qua để đạt được kết quả đó.
Nhìn chung, những gì được miêu tả trên Tạp chí Cloning and Stem Cells có vẻ rất truyền thống. Chính vì thế rất khó hiểu là tại sao nhóm các nhà khoa học trên lại đạt được kết quả trong công việc mà nhiều nhà khoa học khác làm mãi mà vẫn công dã tràng.
Có một điều chắc chắn là không thể hoài nghi kết quả của họ vì họ đã đăng ký được bản quyền phát minh ở Mỹ. Dẫu vậy, chắc chắn là các phòng thí nghiệm lớn trên thế giới đều sẽ tìm cách kiểm tra lại thí nghiệm của nhóm các nhà khoa học trên.
Muốn nói gì thì cũng phải ngả mũ ra chào nhóm các nhà khoa học Nga-Mỹ đã đạt được bước tiến quan trọng này. Họ quả thực đã buộc được các noãn cầu bình thường của người nở ra bào thai mà không cần phải thụ thai. Đến ngày phát triển thứ năm, họ đã cắt ngang sự sống của phôi trong giai đoạn mới hình thành túi phôi - các bong bóng bào thai.
Các tế bào thân được tách ra lúc đó sẽ tạo thành những đường bất tử - chúng được coi như có khả năng vô tận phân tách và tạo nên "hậu duệ" để sau đó những "hậu duệ" này trên thực tế có thể khởi đầu cho bất cứ một mô nào trong cơ thể. Sự thật có đúng như vậy không? Điều đó sẽ được kiểm tra trong 10-20 năm tới.
Để trả lời nhiều câu hỏi về đạo lý liên quan tới phương pháp tự thụ thai, cần phải hiểu việc các nhà nghiên cứu dự định sử dụng các tế bào thân nhận được nhờ phương pháp tự thụ thai vào những lĩnh vực nào của y học. Trước hết, các nhà khoa học hướng tới công nghệ cấy ghép.
Bào thai nhận được nhờ phương pháp tự thụ thai tương đồng về gien với những người phụ nữ đã cung cấp noãn cầu, có chung với họ một nửa hệ gien (noãn cầu mà từ đó thoát ra phôi thai đã chứa từng ấy hệ gien). Sự tương đồng này là vừa đủ để các mô hoà hợp với nhau khi cấy ghép.
Việc phân tích khả năng miễn dịch trong máu những phụ nữ cung cấp noãn cầu và các tế bào thân tách ra từ các bào thai có được nhờ phương pháp tự thụ thai cho thấy, không thể diễn ra sự xâm lấn lẫn nhau giữa các mô và các tế bào có thể được sử dụng để chữa trị bệnh cho những người phụ nữ đó.
Kết quả là, bất cứ một người phụ nữ nào cũng có thể nhận được những tế bào thân từ phôi của mình sau khi áp dụng phương pháp tự thụ thai. Từ đây sẽ mở ra một phương pháp chữa bệnh cá nhân đắt tiền nữa, tương tự như phương pháp nhân bản nội khoa nhưng rẻ hơn