Có hay không đoàn tàu chở báu vật của Yamashita?

Từ năm 1953 - 1974, hãng tàu Kitagawa được giao quyền trục vớt xác đoàn tàu nhưng không mang lại kết quả mong muốn. Ngoài yếu tố khách quan của thời chiến, phải chăng ở đây còn có thêm nhiều uẩn khúc khác liên quan đến chính quyền VNCH?

Hai lần được giao quyền trục vớt

Giữa năm 1953, Bộ trưởng Công chánh Lê Quang Huy đàm phán, ký kết với hãng tàu Kitagawa (trụ sở 141 Phan Đình Phùng, sau dời về đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn) khế ước trục vớt 17 xác tàu chìm trên sông Sài Gòn và ngoài khơi vùng biển Vũng Tàu như đã đề cập trong các kỳ trước. Lộ trình khế ước trong vòng 24 tháng.

 Kitagawa cam kết vớt lên 40.000 tấn sắt vụn, riêng 2/3 xác tàu vớt lên giao lại cho chính phủ khi đó. Toàn bộ số sắt vụn được xuất cảng ra nước ngoài và phải trả cho chính phủ 6 USD/ tấn. Đồng thời hãng này còn phải ký quỹ 360.000 đồng, và 10 ngày sau khi nhà thầu nhận lệnh khởi công còn phải nộp thêm 10.000 USD gọi là tiền bảo đảm khởi công.

Tuy nhiên, đến thời điểm mãn hạn khế ước Kitagawa mới vớt được 2.009,308 tấn sắt. Bộ Công chánh khi đó cho rằng trục vớt như vậy là quá chậm và nghi ngờ hãng tàu có những việc làm "không đứng đắn". Chỉ chọn những xác tàu dễ vớt, nhiều xác tàu chỉ cắt lấy phần nổi trên mặt nước, bỏ lại phần chìm sâu nên kết quả thu được mới ít như vậy. Rốt cuộc, hết thời gian trục vớt ,hãng này bỏ chạy và bị Ngô Đình Diệm ra lệnh tịch thu tiền ký quỹ cùng với tiền bảo đảm khởi công. Ngoài ra, Toà án Sài Gòn còn tuyên tịch thu các phương tiện trục vớt. Chỉ có điều không ai biết họ đã mang đi những gì?

Ngay sau khi hãng Kitagawa bị ông Diệm "xử", Bộ Công chánh tổ chức gọi thầu quốc tế trục vớt những xác tàu này. Hãng Kitagawa có xin dự thầu nhưng không được chấp nhận.

Bên trong khoang máy tàu vận tải Kensho Maru được thám hiểm.

Bên trong khoang máy tàu vận tải Kensho Maru được thám hiểm.

Đến giữa tháng 5 - 1959, thoả ước bồi thường chiến tranh cùng với khoản vay thêm đã được ký kết tại Sài Gòn và ghi nhận thực thi trong 2 năm sau đó. Nhưng đến giữa 1960, đại sứ Nhật sau khi về nước trở lại Sài Gòn thông báo cho chính quyền ông Diệm biết quan điểm về việc trục vớt xác tàu chìm.

Chính phủ của ông sẵn sàng ứng trước 2.250.000 USD để chính quyền Sài Gòn thuê mướn công ty trục vớt. Số tiền này sẽ khấu trừ vào tổng số tiền bồi thường chiến tranh khi nào hai bên đi đến thoả thuận cuối cùng về con số bồi thường chính thức. Vị đại sứ thông báo thêm ngoài số tiền tạm ứng nói trên, chính quyền Sài Gòn chỉ có thể mong được thêm một số ít nữa mà thôi.

Ông nói các nghị sĩ đối lập của chính phủ đương thời còn yêu cầu chính quyền Sài Gòn nên, và tiếp tục giao cho hãng Kitagawa được trục vớt xác tàu, đồng thời được hưởng quyền lợi như đã từng vớt cho Philippines. Và nên coi đây như là điều khoản nằm trong thoả ước bồi thường chiến tranh. Nếu yêu cầu trên được chấp nhận, Nhật sẽ đồng ý cho chính quyền Sài Gòn được dùng số tiền dư trong bồi thường chiến tranh vào bất cứ công việc nào khác.

Lúc bấy giờ ông Diệm có ý định muốn dùng phần lớn số tiền bồi thường vào việc xây dựng thuỷ điện Đa Nhim và dự án Hải quân công xưởng hơn là dùng tiền vào việc vớt xác tàu. Nên trong phiên họp Hội đồng nội các vào tháng 9 - 1961, Hội Đồng tối cao tiền tệ và tín dụng miễn cưỡng của chính quyền VNCH đã chấp nhận cho hãng Kitagawa tiếp tục vớt xác tàu.

Mấy ngày sau phiên họp, Ngoại trưởng chính quyền VNCH Vũ Văn Mẫu đến gặp đại sứ Nhật và thông báo việc vớt xác tàu sẽ được giao cho hãng Kitagawa mà không qua thủ tục đấu thầu.

Sau đó các cuộc đàm phán với hãng Kitagawa được nối lại nhưng kết quả rất chậm, vì cả hai luôn thay đổi đề nghị của mình. Trong đó có việc hãng Kitagawa đề nghị phía Sài Gòn tạm ứng cho hãng này 700.000 USD trong ngân khoản bồi thường chiến tranh, hãng sẽ vớt lên 100.000 tấn sắt ở tất cả các tàu chìm trong hải phận Việt Nam.

Toàn bộ sắt vớt lên sẽ được xuất ra nước ngoài. Số tiền này sau đó sẽ được hoàn trả lại đầy đủ theo hạn định giao ước. Phía Sài Gòn chấp nhận đề nghị trên, nhưng yêu cầu Kitagawa phải ký thác tài sản và chứng thư bảo đảm của ngân hàng Việt Nam Thương Tín.

Trước khi khế ước CVR - 1652 về việc giao quyền trục vớt xác tàu được ký kết giữa đại diện chính quyền Sài Gòn Huỳnh Văn Điểm (Trưởng đoàn đàm phán bồi thường chiến tranh) với Tổng giám đốc hãng Kitagawa tại Osaka vào chiều 11 - 9 - 1964, hai bên đã có rất nhiều cuộc thương thuyết gay cấn.

Theo khế ước CVR - 1652, ngoài số 100.000 tấn sắt vớt lên, Kitagawa trả cho chính quyền Sài Gòn 9,5 USD/ tấn, số tiền này trừ dần vào khoản tiền tạm ứng. Các hoá phẩm tìm thấy trên tàu và vớt lên Kitagawa được hưởng 1/3; vàng, bạc và quý kim dưới 1 triệu USD được hưởng 5%; vàng, bạc và quý kim vớt lên trên 1 triệu USD được hưởng 2%. Số còn lại giao hết cho chính quyền Sài Gòn.

Mới vớt 23 xác tàu?

Cũng theo khế ước CVR - 1652, trong vòng 64 tháng kể từ ngày 22-10-1964 đến 22-2-1970, Kitagawa phải trục vớt 108 xác tàu. Song, đến hết hạn định của khế ước, hãng Kitagawa vẫn không thể hoàn thành. Kitagawa than phiền nhiều năm qua do chiến tranh đã khiến cho tình trạng an ninh ngày càng phức tạp, cản trở nhiều đến công tác trục vớt. Đặc biệt là kể từ sau tết Mậu Thân đến thời điểm mãn hạn khế ước, hãng này đã lỗ 900.000 USD.

Tuy vậy hãng cũng đã vớt được nhiều xác tàu chìm ở sông Sài Gòn, Đồng Nai, Vũng Tàu và hải cảng Đà Nẵng. Trong thời gian cuối của khế ước, hãng đã đến vùng biển Cà Ná, Phan Rang và Qui Nhơn để khảo sát nhiều xác tàu tại những nơi này nhưng rủi thay thời tiết xấu. Trong khi Kitagawa vận chuyển bằng tàu khu trục 300 tấn, chỉ có thể thực hiện được trong khoảng thời gian từ tháng 4 - 6 âm lịch là lúc ít gió bão, thời tiết thuận lợi nhất trong năm.

Bom bay V1 được cho là có trong thành phần mà đoàn tàu đắm chuyên chở.
Bom bay V1 được cho là có trong thành phần mà đoàn tàu đắm chuyên chở.

Ngày 23-2-1970, khế ước trên được hai bên tu chỉnh bằng một bản phụ ước gia hạn thêm 48 tháng. Mặc dù được gia hạn cho đến ngày 22-2-1974, nhưng hãng chỉ thực hiện được 25% khế ước, cụ thể mới vớt lên được 25.174,42 tấn sắt vụn, 23 xác tàu, 18 xác đang trục vớt dang dở, 80 xác tàu khác chưa tìm thấy hoặc một số tìm thấy nhưng hết thời hạn trục vớt.

Về hoá phẩm vớt được: 1.574 thỏi chì, 527 thùng dầu Latex và 2.160 bành cao su… Tuyệt nhiên không hề thấy đề cập gì đến chiến lợi phẩm là ngọc ngà châu báu hay hợp chất antimon. Do vậy, 28-5-1974, Bộ Công chánh gửi đến hãng Kitagawa thông điệp nhằm chấm dứt việc trục vớt xác tàu chìm. Đồng thời còn yêu cầu hãng này hoàn trả lại số tiền mà phía chính quyền Sài Gòn đã ứng trước, nếu không sẽ đưa nội vụ ra toà án.

Tuy nhiên sau đó có "tin đồn" hãng Kitagawa sắp sửa bán các dụng cụ và phương tiện trục vớt để tháo lui, thay vì qui định phải làm thủ tục tái xuất. Để ngăn chặn "tin đồn", ngày 21/10/1974, Trung tâm Nghiên cứu Lập pháp khuyến cáo Toà án Sài Gòn ra án lệnh lập vi bằng sai áp bảo toàn tài sản của hãng Kitagawa.

Tại bến Tân Thuận Đông (Q.7, TPHCM), thuộc Nha thương cảng Sài Gòn, trước sự chứng kiến của đại diện hãng Kitagawa, các tài vật được kê biên gồm: Cần trục 350 tấn, máy kéo, tàu kéo, hơn 10 xe tải và ô tô các loại… trị giá ước lượng 120 triệu đồng. Chưa tròn tháng sau đó nội vụ được chính thức đưa ra toà án Sài Gòn để đòi Kitagawa bồi hoàn số tiền tổng cộng: 885.601,20 USD, trong đó bao gồm tiền ứng trước và tiền phạt trễ hạn khế ước.

Hai tuần sau hãng Kitagawa có công văn "kháng" Bộ Công chánh và toà án Sài Gòn, yêu cầu toà án "khước biện vô thẩm quyền". Hãng Kitagawa cho rằng hãng ký hợp đồng trục vớt với đại diện chính quyền Sài Gòn ở Đông Kinh.

Xét về bản chất đây là khế ước thương mại, do đó phải thuộc phạm vi chi phối của luật thương mại. Trong đó có chấp nhận một điều khoản "trung phán" ghi trong khế ước mà hai bên ký kết ấn định trước cơ quan trọng tài có thẩm quyền giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ khế ước.

Điều 47/ 48 của khế ước CRV - 1652, ghi rõ: "Mọi tranh chấp bất đồng ý kiến, hoặc bất thuận có thể xảy ra giữa đôi bên, có liên quan hay không đến khế ước - nếu có lời yêu cầu của một bên, đều sẽ được giao cho Uỷ ban trọng tài thương mại Nhật Bản giải quyết tại Nhật Bản theo luật lệ của Uỷ ban này. Đồng thời phán quyết của Uỷ ban này có tính cách chung quyết và ràng buộc cả hai bên"..

Bởi các lẽ ấy, chính quyền Sài Gòn tỏ ra bối rối.

SISACO nhảy vào

Trong lúc chính quyền VNCH còn đang bối rối chưa biết đường nào để đòi nợ thì sáng 13-4-1974, Phó thủ tướng VNCH Nguyễn Lưu Viên tiếp kiến ông Bùi Văn Tuyền, sáng lập viên Công ty Hải Trung Kim (SISACO).

Ông Tuyền nói SISACO có vốn pháp định lên đến 115.000.000 đồng, được 6 cổ đông góp vốn lập ra với mục đích vớt xác tàu chìm. Ông Tuyền là cổ đông có vốn góp cao thứ 2 (43%) sau cổ đông người Nhật (49%). Phần vốn góp không đáng kể còn lại của 4 cổ đông khác, trong đó có Thượng nghị sĩ Tôn Thất Đính (5%).

Ông Tuyền cho biết về phương diện kỹ thuật trục vớt SISACO liên doanh với Công ty Nippon Marine Development Co, LTD. Đây là một công ty hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực hàng hải quốc tế, từng vớt những xác tàu tương tự ở Philippines, Malaysia và Indonesia.

Ông Tuyền trưng ra bản khảo sát ước lượng hiện có thể vớt được khoảng 108 xác tàu, tổng tải trọng cỡ 241.000 tấn sắt. Đồng thời ông đưa ra danh sách 20 xác tàu có tải trọng, tọa độ chìm trong hải phận Việt Nam được ông nói là đã xác định chính xác. Những xác tàu này nếu được phép có thể trục vớt ngay trong vòng 2 - 4 tháng mà không cần xin chính quyền hỗ trợ tài chính.

Vì rằng SISACO đã có tài chính đủ mạnh để mua sắm dụng cụ trục vớt tối tân nhất. Hơn nữa trong SISACO có nhiều người hiểu rõ nội tình của các con tàu này. Họ đã mật báo chính xác những hàng hoá cũng như chiến cụ chở trên tàu trước khi bị đánh chìm. Nếu vớt được các tàu ấy lên, ngoài giá trị sắt của xác tàu, còn có nhiều hàng hoá quý giá khác mà không tiện nói ra. SISACO xin được, hoặc tiếp tục công tác của hãng Kitagawa.

Phó thủ tướng VNCH Nguyễn Lưu Viên cho rằng những gì mà hãng SISACO trình bày có vẻ hợp lý, hứa hẹn sẽ mang về cho chính quyền Sài Gòn thêm một nguồn ngoại tệ đáng kể nữa. Nên hơn tháng sau cuộc tiếp kiến nói trên, SISACO đã được phép mang tàu Nichyo Maru vào Việt Nam để hoạt động khảo sát… Tuy nhiên, mọi việc đã quá muộn cho đội trục vớt.

Để kết thúc loạt bài này, chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian tìm hiểu và gặp những người liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp trong thời kỳ ấy. Cùng với hàng trăm trang hồ sơ "mật" và "tuyệt mật" của chính quyền Sài Gòn mà chúng tôi có trong tay, nhiều bằng chứng cho thấy đoàn tàu chở "chiến lợi phẩm" đi vào hải phận Việt Nam là có thật.

Sau 1975, từng có nhiều cá nhân ngấm ngầm dò tìm đoàn tàu này để trục vớt nhưng kết quả không đi tới đâu. Không biết có phải vậy mà cho đến nay, trong rất nhiều báo cáo về những phế liệu được vớt lên từ đoàn tàu này chưa thấy báo cáo nào đề cập đến việc trục vớt được những con tàu chở báu vật, hay các báu vật nằm trong nó.

Phải chăng những con tàu chở báu vật này còn nằm im trong lòng biển? Hay chúng đã được ai đó trục vớt một cách bí mật?

Kỳ Phương

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.