"Chư B'Luk clu clâm" - người hoài hương

Khởi đầu với tập thơ “Lưng lửng hồn” (2021), đến “Ngược tìm phía trước” (2022) và gần đây nhất là “Chư BLuk clu clâm” (2023), người đọc đều có thể nhận thấy được hành trình soi chiếu và lần tìm lại những ký ức của Nguyên Như.

Phong cách viết của Nguyên Như thu hút người ta vào mê cung giải nghĩa, để rồi vỡ ra bởi các tầng lớp nghĩa cô đặc. “Công án thơ” vừa không ngừng mở ra vừa bị nén chặt xuống bởi sự đan cài vô số lớp phiến của những mệnh đề.

z5011072743794_313eb7145a322a18b824cb8881ba9998.jpg -1
Tác giả trẻ Nguyên Như.

“Chư BLuk clu clâm” tiếp nối những địa hạt quen thuộc trong hai tập thơ trước: vùng đất Tây Nguyên, Đắk Nông là quê hương của nhà thơ, gắn liền với hình bóng của tổ tiên, ông bà và cha mẹ; cảnh quan được khắc họa như một truyền thuyết hùng vĩ xa xôi, núi rừng với những đường nét đẹp như một giấc mộng; vấn đề về bản thể và cả sự vắng bóng nét cười, bàng bạc một nỗi niềm miên man như con thuyền đã giong buồm ra khơi song không biết chừng nào cập bến. Những câu chuyện thầm kín bắt đầu được kể, tồn tại một mối liên kết để người ta nhìn thấy được sự dằng dặc và vô cùng của những ám ảnh vô thức. Song cùng một lúc, mối bận tâm về thiên nhiên trở nên rõ rệt hơn, tiềm tàng một xung lực rồi đây sẽ trở thành địa hạt chính trong những gì anh chọn viết ra.    

Cảm thức hoài hương trong một cõi xa lạ

Trong tập thơ "Chư BLuk clu clâm", cùng một nỗi nhớ hướng về quê hương, Nguyên Như đã dựng lên hai thời không riêng biệt. Sự khác nhau về thời không ảnh hưởng tới điểm nhìn của nhân vật, từ đó quyết định nhân vật ấy là con người đại diện cho một nhóm người (thuộc thiểu số) hay con người cá nhân (anh ta chỉ đang nói về nỗi lòng thuộc về anh ta khi đối diện với cái bóng của chính mình).

Thời không đầu tiên đặt điểm định vị tại Xaraburly - một tỉnh nằm ở Bắc Lào, với một nhóm thanh niên trẻ rời khỏi nơi sinh thành để tới Lào xuất khẩu lao động, nhưng những ảo mộng đầu đời về giá trị của đồng tiền đã khiến cho cái giá tương xứng phải trả về sau càng đắt hơn gấp bội phần: “Quây tròn chật chội/ chuyến xe nhiệt huyết những trẻ trai/ khướt say bóng đèo/ lan man đồng tiền đầu tiên êm ái/ ở Xaraburly/ có lẽ nhiều ngọt ngào” (Xứ sở & Dấu chân), “Ngật ngờ/ “a la, a la, cho tôi về với bố”/ chỉ côn trùng nấc/ mai rồi! đâu xa được bụi sắt/ đây, phía Bắc/ Xaraburly” (Tôi là người lạ).

“Tôi” sống ở Xaraburly nhưng không thể cắm được cái rễ của mình xuống Xaraburly, “Tôi” chỉ còn cách ngoái nhìn lại quê hương. Nhưng quê hương lúc này vừa có nghĩa là một vùng đất, vừa là một phiên bản của cái tôi trước đây mà con người phải đối diện vào thời khắc đứng trước bao cám dỗ. Kẻ khác dùng thuốc phiện và cơn mê điên loạn để tìm kiếm một sự lãng quên thực tại, bởi thực tại giờ đây đã vượt quá ngưỡng khả năng chịu đựng.

Còn sự quên của nhà thơ vẫn là sự quên có ý thức, song hành với nhận thức trước thảm cảnh hiện thực: “đây giấu mất bóng hình quê hương/ vùng thổ dị dụ mê đàn gà hút hít” (Thổ dị), “Mình quên nhà mình lần nữa/ giữa cái đầu hoang trống/ chưa thể cầu vồng (Lơ lửng). “giấu mất” tức người ta vẫn còn có thể đi tìm, “quên nhà mình lần nữa” tức là đã có tiền lệ trước đây, biết đâu rồi người ta vẫn còn có thể nhớ lại, vì thế nó cũng là lời hứa hẹn trở về. Thời không đầu tiên trở thành một trò trốn tìm của ký ức, khi tâm thức lãng quên trở thành phản ứng chung của nhóm người xa xứ.

Thời không thứ hai không còn từ biên giới này nhớ về biên giới kia, nhưng nặng hơn những ý niệm về tha nhân. Nếu tách rời cảm thức xa lạ với một địa điểm cố định, chủ thể trữ tình không chỉ còn là người lạ bởi vì anh ta phải rời khỏi vùng bản địa văn hóa anh ta cảm thấy mình gắn kết sâu sắc với nó, mà anh ta đã là người lạ bởi anh ta phải hiện hữu trong thế gian.

Một số bài thơ của Nguyên Như mang khuynh hướng hiện sinh với cảm thức bơ vơ, lạc lõng luôn dễ dàng bắt gặp trong văn chương đương đại, từ lạ vì thế cũng trở thành từ quen trong những dòng tự vấn mải miết về thân phận và cuộc đời: “Đời người thường đã lạ/ đời anh cũng chẳng giống sự tiếp nối của đêm/ trăng hôm nay non mãi/ sông cũng hiền…” (1 giờ 06), “Nghĩ về ánh nhìn thật lạ buổi đầu/ có lẽ ủ dần nguyên cớ/ tận trời/ một dòng thơ…/ tro rụi” (Người tình), “Bọt tan nhào lên sóng/ cái hồn vỡ vỡ ra/ cái người ngơ ngơ lạ/ u mê u mê mà” (Những dòng thơ đêm).

Nếu lưu tâm tới vấn đề con người trong thơ của Nguyên Như, người đọc sẽ nhận thấy nhân vật vẫn luôn ở trong một dòng chảy mải miết của những kiếm tìm, nhung nhớ, của những không gian đan xen liên tục đổi cảnh và những khoảng thời gian ra sức lần tìm về.

Những ám gợi về phê bình sinh thái

Trường liên tưởng rộng mở trong sáng tác của Nguyên Như đến từ ý thức của việc lạ hóa các hình ảnh và biểu tượng. Trong địa hạt những chủ đề lớn, người viết hiểu rằng mình cần phải có một tiếng nói khác, đồng thời cũng mong muốn bảo đảm duy trì được tính thống nhất trong những lựa chọn phối ghép tưởng chừng là ngẫu nhiên nhất, để từ đó đạt được cấu trúc mang dấu ấn tinh thần của riêng anh.

Sự lạ hóa ấy thể hiện rõ nhất trong việc đặc tả thiên nhiên: “tán gạo già chờ trăng rịn đỏ” (Nguyệt thực), “sương gió lịm chìm ngăm ngăm da thịt” (A Ma Bum), “rừng thông xanh ươm một hạt trăng cuối cùng” (Ngày nắng rơi). Song đặt trong bối cảnh thiên nhiên không còn toàn vẹn được như ký ức, sự khắc họa thiên nhiên đã xuất hiện những ám gợi về phê bình sinh thái, bởi nỗi hoài hương về quá khứ sẽ khiến người ta nhận ra những đổi thay của thực tại.

chính.jpg.jpg -0
Bìa tập thơ mới của Nguyên Như.

Cảm quan về sự rạn vỡ và đứt lìa, về những điều đã mai một dần và không cách nào lấy lại đậm đặc trong những mô tả cảnh quan: “Dãy đồi sau nhà khô trọc từ ngày tôi chưa là bào thai/ trên điệp trùng dây điện và những chấm hoa trồi ra/ khỏi mắt/ nhạt mờ bầy voi hút nước/ rời rạc khoảnh khắc con trăn cuộn ngủ/ cùng mẹ già thổi tù gọi chồng hoàng hôn” (Cân bằng), “Cây ngô, cây mía không còn/ củ mài, củ dờn ôm âm sáo chập chờn chín đỏ/ chiều ngủ giữa quả đồi/ tạm quên từng mẻ gạo khô rát, từng ánh đèn dầu/ nín lặng” (Sáng).

Đồi chỉ “kín xanh” khi đồi ở trong cơn mơ (Trực giác), còn đa số trong những bài thơ khác, hình tượng ngọn đồi gắn liền với sự khô trọc, hoặc hình ảnh ám gợi liên quan tới lửa. Trong hệ ý thức của chủ thể trữ tình khi nghĩ về lửa, lửa luôn là một đối tượng đến từ bên ngoài, sự khởi nguyên của nó không đến từ tự phát, mà dường như có bàn tay người đã châm lên ngọn mồi: “Lửa thiêu tôi điêu tàn/ em rụi cháy/ tại ai?/ gục cả đôi mình (Đêm cuộn mây), lửa ai đốt vào mắt/ lửa ai nhóm lòng tay?” (Trên cỏ), “Chỉ một gió đằm trộn đỏ mặt trời/ ai đốt nhỉ?” (Vào mùa rừng cháy). Nhưng mặc những tiếp nhận bỡ ngỡ ở thế bị động, khi thiếu vắng lửa, con người lại bắt đầu khởi phát một sự tìm kiếm: “gió đâu lửa đâu/ một ngọn đèn dầu/ kiệt sức”… (Trên mây), tạo thành một chuỗi điệp khúc nối tiếp nhau chừng như không có hồi kết.

Và như Chư BLuk - ngọn núi lửa với giấc ngủ đã triệu năm, hiện lên trong thơ gắn liền với lịch sử của họ tộc và giây phút “Tôi” sinh ra trên đời: “bên ven Chư Bluk một họ tộc chôn cọc mé sông cong/ ngả trong bộ rễ lâu năm/ gióng lên những hình hài màu đất/… Khi mẹ tôi sinh tôi dưới gốc Nâm NĐir/ rìa núi lửa âm âm cột khói/ ông Cò Mạ cắm vía buộc chỉ/ đôi mắt trong rỗng lao thẳng phía chân đồi/ nguyên/ nghĩa/ cánh rừng” (Hai mươi tám năm Nâm NĐir hiện ẩn cầu vồng). Núi lửa Chư BLuk đã ở đó xuyên suốt bao thế hệ, từ thời ông bà tổ tiên cho tới ngày “Tôi” sinh ra. Khi “Tôi” nhìn về phía Chư BLuk, tôi sẽ biết nơi chôn ấy lưu giữ ký ức về lịch sử của tộc người mình. Lửa trở thành ký ức, thành văn hóa, thành một di truyền của xứ sở, nhưng nếu con người không biết coi trọng thiên nhiên, lửa cũng sẽ từ tay con người mà hủy diệt cảnh quan, niềm hoài hương từ đó sẽ trở thành nỗi nhớ dành trao một chốn đã không còn có thể quay về.

Con người hoài hương trong thơ của Nguyên Như là con người mang theo nỗi nhớ về cảnh quan, về tổ tiên, nhưng cũng là nỗi nhớ về chính mình. Và bởi có sự hoài hương ấy, con người ta mới dấn thân vào hành trình thơ ca, từng bước dò dẫm quay trở về cố hương trong căn cước, lẫn tìm kiếm miền cố hương chỉ thuộc về riêng mình.

Nguyễn Mai Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).