Bồng bồng mà nấu canh tôm…

Mình thích đến đây vì những món ăn nhà quê. Mình dân quê chính gốc, quê từ cái móng chân nhuộm vàng nước phèn chua đồng trũng quê đi. 

Cách đây khoảng mươi năm, mỗi lần có dịp ra Hà Nội, mình hay đến ăn cơm ở một cái quán ăn trên đường Lý Thường Kiệt. Số nhà bao nhiêu không nhớ, chỉ nhớ ở cái quãng phố ấy, gần cái ngõ ấy. Đi bộ từ chỗ mình hay trọ đến đó hơi xa, nhưng vẫn thích đi. Dọc đường còn có thể ghé sạp báo vỉa hè chọn mua mấy tờ báo…

Quán nhỏ, sạch sẽ, yên tĩnh. Đèn vừa đủ sáng, nhạc vừa đủ nghe. Toàn những giai điệu thong thả, dìu dặt, âm thanh từ cái loa gắn đâu đó trên góc tường có lúc lặng đi giây lát rồi lại thức dậy, văng vẳng như vọng sang từ nhà hàng xóm. Khách đến quán đi nhẹ nói khẽ. Bàn ăn vừa hai người, nhiều hơn hai người thì phải ghép thêm bàn. Mình không phải bợm nhậu, nhưng thích uống rượu.

Trước bữa ăn có ly rượu ngon thấy phấn khởi hẳn. Quán này có bán rượu lẻ. Khá nhiều thứ rượu, mạnh thì có cognac, vodka, whisky, quốc lủi làng Vân, nhẹ thì vang trắng, vang đỏ vân vân… Bia cũng có vài ba nhãn hiệu nổi tiếng. Mình ưa whisky.

Một hớp whisky uống vào như uống một ngọn lửa nhỏ hay một hòn than hồng, cứ nguyên khối như thế râm ran trôi vào họng, rồi từ họng trôi xuống bao tử, trôi đến đâu biết đến đó, đánh thức cảm giác, xua tan mọi uể oải, trì trệ, thêm vài ly có thể tạo ra thứ ảo giác thần thánh mà những kẻ không hiểu không yêu rượu thì không bao giờ có được. Tửu lượng vét đĩa như mình chỉ cần một ly nhỏ đã đủ thấy Hà Nội là nơi đáng sống nhất hành tinh rồi.

Nhưng có lẽ cái lý do chính để mình nhớ nhiều đến cái quán ấy không phải whisky bán lẻ. Nhiều nơi có whisky. Mình thích đến đây vì những món ăn nhà quê. Mình dân quê chính gốc, quê từ cái móng chân nhuộm vàng nước phèn chua đồng trũng quê đi. 

Quê mùa ngồi vắt chân chữ ngũ giữa Hà Nội, nhâm nhi rượu Tây với thịt ba chỉ luộc chấm mắm tép, chuối xanh, canh hến, rau lang… chẳng giống ai, càng quê nồng quê nặc lên, có phải không ạ? Biết thế mà vẫn đến.

Cái quán cơm dễ thương trên đường Lý Thường Kiệt ấy cũng chỉ bày biện mâm bát ra được đâu vài ba năm rồi đóng cửa hay chuyển đi chỗ nào mình không biết.

                                                            ***

Hồi nhỏ ở quê, mình thấy nhiều nhà ăn uống kham khổ, tạm bợ lắm. Mâm cơm dọn lên có đĩa tép rang lá gừng vắt chanh đã là xa xỉ rồi. Họa hoằn có khách xa tới chơi mới dám hành mỡ xèo xèo tráng trứng đãi khách. 

Nhiều bữa đến khi nổi lửa quáng quàng ra vườn ra bờ ao hái nắm rau tập tàng. Tập tàng là lẫn lộn các loại rau má, rau sam, dền gai, mồng tơi, lá lốt…, tóm lại là những thứ rau cỏ lá lẩu ăn được mọc hoang ngoài vườn. 

Canh rau tập tàng dễ đưa cơm, lại mát ruột. Còn có những thứ ăn được khác, nhưng không phổ biến và cũng khó ăn hơn rau tập tàng, chẳng hạn như ngọn dây khoai lang, hay đọt sắn tàu (miền Nam gọi là cây khoai mì) vừa nồng vừa chát, thì ít ai dùng đến. Vậy nên có lần giật mình thấy tính tiền mấy chục ngàn đồng đĩa rau lang luộc trong nhà hàng Hà Nội.

Một số món ăn quê nghèo giờ bỗng "lên ngôi" ở thành phố. Nhưng nhiều món vẫn quanh quẩn ở quê, hoặc là mai một dần. Những món ăn quê trong ký ức những người xa quê lâu ngày, trở thành thứ của cải tinh thần quý giá đối với họ.

Chả thế mà nhà thơ làng Chùa nổi tiếng Nguyễn Quang Thiều viết hẳn một cuốn sách, cuốn "Mùi của ký ức", về cá kho, cá nướng, gỏi cua, bánh đúc riêu cua, ốc nhồi nấu chuối, canh hến lá dâu, rồi các loại bánh: bánh khúc, bánh khoai, bánh sắn, bánh mật…, như muốn giữ lại hồn vía những món ăn dân dã, cũng là hồn vía của những người nông dân chất phác đôn hậu quê ông.

Có lần mình về chơi với ĐH ở Thái Bình, y đãi mình món canh cua nấu dải khoai. Dải khoai là một phần mọc ra từ rễ của cây khoai ngứa (cây khoai dùng để nấu với cám cho lợn ăn). Khoai ngứa mọc dưới nước, thường trồng ở ven ao. Dải khoai to bằng chiếc đũa ăn cơm, dài chừng vài gang tay. 

Quê mình gọi dải khoai, nhưng Đ. gọi bồng khoai. Y khăng khăng bảo gọi là bồng khoai như quê y mới hay, mới đúng. Rồi vận cả ca dao ra để chứng tỏ: "Bồng bồng mà nấu canh tôm/ Ăn vào mát ruột, đến hôm lại bồng". Hay: "Bồng bồng mà nấu canh khoai/ Ăn vào mát ruột, đến mai lại bồng".

Mình té nước theo mưa:

- Bồng bồng mà nấu canh cua/ Ăn vào mát ruột, đi mua về bồng.

Thực ra thì dải khoai, hay bồng khoai (có nơi khác còn gọi ngó khoai), muốn ăn cứ ra ao ngắt về, chứ ai mua ai bán. Cũng là họ rau tập tàng. Và có thể nấu với đủ thứ: cá, cua, tôm, ốc. Có người chơi chảnh, nấu dải khoai với chân giò. Không có gì kèm đành nấu suông. Để dậy mùi kích thích vị giác có thể nêm thêm chút mắm tôm, chút mẻ.

Làm sao cho dải khoai hết ngứa khi nấu canh cũng là một thủ thuật của con nhà bếp. Thường là rửa, bóp bằng nước muối rồi đem luộc sơ, gạn sạch nước mới cho vào nồi canh. Có người cẩn thận trước khi luộc còn đảo qua vài lượt trong chảo nóng cho ra hết nhựa. Nhưng thật ra đã là canh dải khoai thì ăn vào phải thấy hơi ran ran trong cổ họng mới đúng vị.

Nói ăn canh dải khoai mát ruột, lành bụng là rất chính xác. Càng quê càng lành. Người đã vậy, đến món ăn cũng vậy. Người nhiều tuổi, nhất là các bà cụ móm mém ở nhà quê, ưa món canh quê kiểng này. Mát ruột đã đành, lại dễ ăn - dải khoai chín nhừ, chưa kịp cho vào miệng đã trôi xuống cổ.

Còn một món dân dã khác, mình rất thích, sau này đi nhiều nơi, sống ở nhiều vùng khác nhau nhưng chưa bao giờ được ăn lại.

Đó là món cua rang lá lốt.

Quê mình ở vùng đồng chiêm trũng. Năm nào cũng từ khoảng tháng năm tháng sáu đổ đi là nước ngập trắng đồng. Người lớn méo mặt lo mùa màng thất bát, nhưng trẻ con như mình lại khoái. Mùa của đi câu, cất vó, úp nơm, thả rọ (rọ cua, rọ rô, rọ trê), thả ống lươn, đơm đó và đánh dậm… Cá, cua, tôm, tép đầy đồng, cứ như chúng được sinh ra tự nhiên từ đất từ nước. Bọn mình chỉ có việc đi bắt về, xúc về.

Rủ nhau đi đánh dậm vui hơn cả. Thả rọ, đi câu hay cất vó cứ thui thủi một mình, nhưng đánh dậm thường đi cả bọn. Năm, bảy thằng cởi trần dàn hàng ngang, mỗi thằng một dậm một ống sũng, lần lượt "càn quét" từng cánh đồng. Sáng đi, chỉ nửa buổi là cái giỏ đeo bên hông đã nặng trĩu. 

Về nhà tháo hom đổ vào chậu, cua mẹ cua con túa ra, chen chúc trèo lên đầu lên cổ nhau, trông sướng mắt. Lựa riêng những con cua to khỏe để dành bữa sau. Những con cua bấy (cua lột), và những chú cua nhỏ chỉ nhỉnh hơn đầu ngón tay làm món cua rang lá lốt, ăn trước.

Món này nếu không gọi là "rang", mà gọi "xào", hay "rim", có lẽ cũng chả sai. Nhưng quê mình quen dùng chữ rang (tôm rim cũng gọi là tôm rang). Cua nhỏ (và cua bấy) còn nguyên mai, rửa sạch, để ráo nước. Bắc chảo lên bếp, phi hành mỡ cho thơm. Thả cua vào, đảo đều, khi cua ngả màu vàng thì nêm mắm muối cho vừa độ. Có hai thứ quyết định hương vị độc đáo của món ăn không thể bỏ qua, đó là mẻ và lá lốt. Nhà mình lúc nào cũng sẵn một âu mẻ treo góc bếp. 

Cứ năm, bảy ngày mẹ lại hạ xuống cho mẻ ăn. Mấy thìa cơm nóng xúc ra bát cho nguội hẳn là đủ thức ăn cho âu mẻ. Mỗi lần lấy mẻ dùng phải gạt lớp cơm chưa ngấu trên miệng ra, lấy phần đã nhuyễn như cháo đặc ở bên dưới. Còn lá lốt thì trồng ở góc vườn, dưới tán cây mít. Loại cây này càng ít nắng lá càng xanh đậm, càng thơm. 

Râm mấy đoạn thân cây xuống là chúng tự bén rễ, chẳng cần phân gio gì cũng tốt như rừng. Món cua rang lá lốt chỉ cần vài thìa mẻ đã lọc (tùy theo số lượng cua) gạn vào lúc cua gần chín, sau đó bỏ thêm nắm lá lốt thái chỉ. Lấy đũa đảo cho lá lốt trộn đều với cua.

Khi cua chín hẳn và ngấm gia vị, nhanh tay xúc ra đĩa. Mùi thơm của món cua rang thoáng ngửi thấy đã nhẹ người. Có được cái cảm giác khinh khoái đó chính là nhờ lá lốt - thứ cây không chỉ làm gia vị trong ẩm thực mà còn dùng làm thuốc chữa bệnh, nhất là chữa các chứng đau nhức, mệt mỏi, biếng ăn. 

Miếng cua rang vừa giòn vừa mềm cho vào miệng, vị tươi ngọt của cua đồng, vị chua dịu của mẻ, vị bùi bùi cay nồng của lá lốt quyện vào nhau, ngon đến mức nếu mình viết thêm một dòng thì dễ mang tiếng học đòi các cụ Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân… khi các cụ nhẩn nha bàn về ẩm thực. Mình chỉ nhớ hồi ấy cứ một con cua, một miếng cơm, mà ba bốn lần đưa bát cho mẹ xới vẫn chưa buông đũa đứng lên được.

Ôi cua rang lá lốt! Món ăn quê của những năm tuổi thơ.

Xa quê bao nhiêu năm thì cũng ngần ấy năm để bụng thương nhớ. Đến nỗi một đêm trong thành phố nọ, giật mình tưởng thấy đang ngồi bên mâm cơm thuở bé ở quê nhà. Mùi cua rang lá lốt sực nức bay qua cửa sổ… 

Sáng hôm sau đem cái thắc mắc ấy kể cho bạn nghe, bạn cười ầm: "Lá lốt nào ở đây? Mùi hoa sữa ngoài phố đấy". Ô hay chửa! Nhưng mà đúng mùi hoa sữa thật. Thứ hoa đã đi vào thơ vào nhạc, làm thi vị thêm kỉ niệm của bao kẻ lãng mạn, bao cặp tình nhân. 

Sau này ở phố nhiều, quen hương hoa sữa, mới thấy giữa mùi hoa thị thành và hương vị món ăn quê mùa kia chẳng có dây mơ rễ má gì thật. Thế mới biết dù có ly hương bao lâu đi nữa thì hồn quê vẫn chẳng chịu rời bỏ mình, để đôi khi lại thảng thốt thức dậy từ trong sâu thẳm...

4-8-2017

Trần Đức Tiến

Các tin khác

Chương trình Lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng tháng 5/2026 thu hút hàng nghìn người đổ về

Một concert, vạn dịch vụ hưởng lợi

Du lịch âm nhạc tạo ra một nguồn thu lớn khi thu hút lượng lớn người xem, kèm theo hàng loạt các dịch vụ khác như lưu trú, ăn uống, mua sắm. Đây cũng là lý do nhiều địa phương bắt đầu xem các đại nhạc hội như một công cụ phát triển kinh tế, tương tự cách họ từng làm với các lễ hội văn hóa truyền thống.

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Khi danh sách các đội tuyển dự World Cup 2026 được gửi tới FIFA, một thống kê đã làm sáng tỏ vị thế độc tôn của bóng đá Pháp: Với 99 cầu thủ sinh ra tại Pháp - chiếm gần 8% tổng số nhân sự dự giải, vượt xa Hà Lan (67 người) và Đức (50 người) để trở thành nước xuất khẩu cầu thủ nhiều nhất thế giới.

Thanh kiếm quyền lực

Thanh kiếm quyền lực

Trong các câu chuyện về kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công ở nước ta năm 1945, hầu như không thể thiếu đề tài: Đại diện chính quyền cách mạng tiếp nhận ấn, kiếm và chứng kiến Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Sau bốn suất diễn tại Nhà hát Hồ Gươm, vở vũ kịch “Khổng Tước - The Peacock Hanoi 2026” đã khép lại hành trình tại Hà Nội, để lại nhiều dư âm sâu sắc trong lòng khán giả. Không chỉ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ múa tinh tế và không gian sân khấu giàu tính nghệ thuật, vở diễn  tạo nên những rung động mạnh mẽ với người xem.

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Một đoạn clip tranh cãi tưởng chừng chỉ là va chạm cá nhân lại nhanh chóng bộc lộ phía sau nó những vấn đề lớn hơn, đáng để người ta phải suy ngẫm, đó là cách ứng xử của người nổi tiếng trong cuộc sống đời thường, đó là văn hóa kinh doanh, coi khách hàng là "ông nội", sẵn sàng cho người lao động nghỉ việc, khi áp dụng bộ quy tắc cứng nhắc.

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Khi thế giới nói về biến đổi khí hậu, Amazon thường được nhắc đến như “lá phổi của Trái đất”. Nhưng ở phía bên kia Đại Tây Dương, rừng mưa Congo - khu rừng nhiệt đới lớn thứ hai thế giới - đang âm thầm gánh vác vai trò không kém phần sống còn đối với khí hậu hành tinh, trong khi sự quan tâm, nguồn lực và cam kết bảo vệ lại quá ít ỏi.

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Trà Shan tuyết cổ thụ mọc trên những ngọn núi cao, trải dài từ Đông Bắc qua Tây Bắc. Mỗi vùng thổ nhưỡng khác biệt, hương vị trà cũng vì thế mà có nhiều biến đổi. Trà từ phía Đông như Quản Bạ, Tây Côn Lĩnh, Hoàng Su Phì của Hà Giang thiên về vị ngọt, chuyển qua cực Tây với Tủa Chùa của Điện Biên sẽ nồng nàn đắng chát, trục giữa có vùng trà cổ thụ ở Tà Xùa (Sơn La), lại mang sự cân bằng hoàn hảo ở cả hương - vị trong nội chất trà.

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Sau hơn 13 năm xung đột, con số cần để tái thiết một Syria đổ nát, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), có thể là 216 tỷ USD, hoặc lớn hơn rất nhiều. Nhưng với Syria, thách thức chính trị, kinh tế và an ninh đan xen chặt chẽ, và thành công của tiến trình chuyển tiếp sẽ phụ thuộc vào việc nước này có thể xây dựng được thể chế bao trùm, có tính chính danh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ lún vào vòng xoáy bạo lực và chủ nghĩa chuyên chế hay không.

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang rất lúng túng trước làn sóng tội phạm tài chính gia tăng nhanh chóng. Tình trạng nghiêm trọng đến mức Hiệp hội Thẩm phán nước này mới đây phải lên tiếng cảnh báo, nếu không sớm có hành động hiệu quả, Đức sẽ trở thành “thiên đường cho tiền bẩn”.

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ “va chạm” với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Phỏng vấn một cái chén

Phỏng vấn một cái chén

PV: Sống cùng chị Chén quá nửa đời mà chưa được phỏng vấn chị lần nào. Xin chị giới thiệu bản thân với độc giả ngắn gọn nhất có thể!

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi cựu lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lật đổ năm 2011, Libya vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chia cắt chính trị và bất ổn kéo dài. Quốc gia Bắc Phi này hiện tồn tại song song hai chính quyền đối lập, một là Chính phủ Đoàn kết Dân tộc (GNU) được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, có trụ sở tại Tripoli, và Chính phủ Ổn định Quốc gia (GNS) ở miền Đông, gắn với Hạ viện Libya đặt tại Tobruk.

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Gần cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 11/2025, vì một sự may mắn nào đó, sóng biển đã hai lần làm lộ diện một phần lớn tàu cổ Cẩm An tại khu vực biển Thịnh Mỹ, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nhưng sự may mắn ấy chưa được cấp thẩm quyền chớp lấy bởi đang vấp phải sự lừng khừng từ nhiều phía. Nếu không chủ động nắm bắt cơ hội do sóng biển hung dữ mang lại, một ngày không xa, tàu cổ Cẩm An mang chứa trong mình nhiều điều bí ẩn về lịch sử, văn hóa… sẽ lại bị nhấn chìm dưới đáy biển.

"Nhảy dù" giữa thời bình

"Nhảy dù" giữa thời bình

Trong các lực lượng tinh nhuệ thì lực lượng nhảy dù là đứng đầu. Tiền tuyến hậu phương sẽ mơ hồ bởi lính dù luôn xuất hiện sau lưng đối phương. Lính dù phải khỏe như hổ, nhanh như sóc, gan đầy mình, thần kinh thép, trí dũng song toàn… Tiêu chuẩn tuyển chọn rất cao.

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Sau bao năm đối diện với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí đôi lúc suýt rơi vào nguy cơ bị "khai tử" bởi dự án xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị, đến nay di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Hà Nội) đã chính thức được định danh là di tích cấp thành phố, mở ra nhiều hướng tiếp cận mới từ góc độ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản.