Bích Khê: Tài thơ độc đáo

Đọc thơ Bích Khê, ta như đắm mình trong thế giới của màu sắc, mùi hương, hình ảnh, âm thanh... Người đọc như được tác giả dẫn vào thế giới tĩnh lặng và ở đó chỉ âm vang hư thực, mờ ảo của tiếng đàn truyền thống.

Cuối bài viết “Người em: Bích Khê”, bà Lê Thị Ngọc Sương - chị ruột của nhà thơ - ghi lại một chi tiết rất có ý nghĩa: “1945 - một đêm có tiếng reo hò vang lên: quân Nhật đầu hàng. Sáng hôm sau, thiên hạ hay rằng có cuộc khởi nghĩa. Bích Khê mừng quá, bắt người nhà khiêng chàng nằm trên ghế bố ra cửa đón phong trào đang lên. Chàng nói với chị: Em chưa muốn chết! Em yêu đời quá!”.

(70 năm đọc thơ Bích Khê, trang 24, NXB Thanh niên, 2003)

Câu nói thật cảm động, giúp ta rõ niềm vui sướng vô cùng của thi sĩ thanh niên khi được chứng kiến cuộc đổi đời của dân tộc. Tâm trạng hồ hởi đón chào cách mạng của Bích Khê không có gì khó hiểu, vì bản thân ông vốn nặng lòng với quê hương, đất nước. 

Có thể thấy rõ tình cảm ấy qua các bài thơ vịnh sử và những bài viết về các vùng quê của đất nước. Tâm trạng mừng vui ấy còn do truyền thống yêu nước của gia đình. Ông nội Bích Khê (cụ Lê Trọng Khanh) tuẫn tiết, quyết không khuất phục trước sự mua chuộc của tên đại Việt gian Nguyễn Thân. Ông thân sinh (Lê Quang Dục) ẩn cư trong nghèo túng để giữ tròn khí tiết. Chị (Lê Thị Ngọc Sương) và các anh (Lê Quang Khâm, Lê Quang Hường) đều gắn bó thuỷ chung với cách mạng,

Tiếc thay, niềm mong muốn giản dị và thật xúc động ấy không thực hiện được vì đã đằng đẵng chín năm ông mắc bệnh lao phổi và lúc đó là giai đoạn cuối cùng. Chỉ năm tháng sau ngày Quảng Ngãi khởi nghĩa, Bích Khê của chúng ta qua đời ngày 23 tháng Giêng năm 1946.

Bích Khê là một nhà thơ chân tài nhưng yểu mệnh. Không riêng gì ông, giai đoạn này có không ít nghệ sĩ nổi tiếng cũng ở tình trạng tương tự: Nguyễn Nhược Pháp (1914 - 1938) hưởng dương 24 tuổi, Vũ Trọng Phụng thọ hơn một chút, mất lúc 27 tuổi (1912 - 1939), Hàn Mặc Tử cầm cự khá hơn, nhưng cũng không qua tuổi 28 (1912 - 1940). Còn Nam Cao, ông đã hy sinh trước loạt đạn độc ác của thực dân Pháp ở bến đò Hoàng Đan lúc mới 36 - tuổi đã đến độ chín của nghiệp cầm bút.

Trong sáng tạo nghệ thuật, tài không đợi tuổi. Nguyễn Nhược Pháp có chỗ đứng xứng đáng trong nền thơ hiện đại chỉ bằng một tập thơ hết sức trong sáng Ngày xưa (1935). Thi nghiệp của Hàn Mặc Tử phong phú hơn, ông để lại cho hậu thế một chùm tác phẩm: Gái quê (1936), Thơ điên (tức Đau thương, 1936), trong đó có những bài sống mãi với thời gian (Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ). 

Cũng cần kể thêm các tập Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên v.v… Hai cây bút văn xuôi thì khỏi nói nhiều: Vũ Trọng Phụng là “tiểu thuyết gia trác tuyệt” (chữ của Nguyễn Đình Thi) bất tử với Giông tốSố đỏ. Nam Cao cũng có vị trí tương tự với Chí Phèo và nhiều truyện ngắn xuất sắc khác.

Còn Bích Khê? Đời thơ của ông kéo dài hơn một thập kỉ, từ tuổi 16 đến lúc qua đời. Sinh thời, ông mới cho in tập thơ Tinh huyết (1939). Non 50 năm sau, người đọc mới tiếp nhận tập thơ thứ hai (Tinh hoa). Bản thảo 3 tập thơ Mấy dòng thơ cũ, Đẹp, Ngũ hành sơn đến nay vẫn chưa được công bố đầy đủ.

Ngay khi Tinh huyết ra mắt độc giả, tín hiệu phản hồi rất tích cực. Hàn Mặc Tử khẳng định “có thể so sánh thơ Bích Khê như một đoá hoa thần dị” (bài tựa tập Tinh huyết, 1939). Tác giả Thi nhân Việt Nam - nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh - thì cho rằng trong Tinh huyết “có những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam” (1941). Bước vào thời kỳ đổi mới, thơ Bích Khê càng được trân trọng. 

Theo Chế Lan Viên, thơ Bích Khê là “một đỉnh núi lạ. Có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực, lại có những nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay. Khê thuộc vào hạng thứ hai” (Thơ Bích Khê - 1988).

Còn nhà phê bình đáng tin cậy Lê Đình Kỵ thì khẳng định: “Bích Khê xuất hiện trên thi đàn như nhà cách tân đi xa hơn cả so với đương thời” (Bích Khê - Truyền thống và cách tân, 1997).

Nói cho công bằng, góp phần cách tân mạnh mẽ thơ mới, song hành với Bích Khê phải kể đến Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử. Hãy nói riêng về Bích Khê. Chặng đường sáng tác đầu tiên của ông lúc chưa đến tuổi thành niên chủ yếu là thơ Đường luật (Nguyễn Huệ, Đèo Hải Vân, Về Thu Xà cảm tác…) và thật lạ, nhà thơ sáng tác cả theo thể ca trù - thể loại tưởng như đã được đưa vào viện bảo tàng (Nghe chuông, Bán thơ). Nhà thơ được công luận đón chào dè dặt và chưa có chỗ đứng xứng đáng trên thi đàn. 

Từ năm 1937 trở đi, có một Bích Khê khác - Bích Khê của thơ tượng trưng. Cuối đời, ông tiến sang địa hạt tôn giáo nhưng đúng như Nguyễn Huệ Chi nhận xét “tính chất tượng trưng là đặc điểm quán xuyến toàn bộ thơ Bích Khê, nó chi phối cả những bài mang cảm xúc dữ dội cũng như những bài nhẹ nhõm” (Từ điển Văn học bộ mới, trang 126).

Ông đã từng tuyên ngôn:

Hỡi lời ca man dại
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lại
Thuần tuý và tượng trưng

            (Xuân tượng trưng)

Sự đổi mới này là do ý chí quyết tự vượt mình của Bích Khê trên cơ sở đã tiếp nhận ảnh hưởng của tinh hoa thơ phương Tây, đặc biệt là thơ Pháp ngay từ lúc còn ngồi trên ghế bậc trung học và bậc chuyên khoa tú tài. Ông đã nghiền ngẫm tác phẩm của Valéry, Rimbaud, Verlaine, Mallarmé, Baudelaire…

Cũng không thể không nhắc tới sự “khích tướng” - bức thư với nhiều lời khiêu khích mỉa mai của Hàn Mặc Tử “cốt làm cho chàng tức. Quả nhiên chàng giận run người và vội trả lời, thề với tôi rằng: trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến làm thi sĩ nữa” (sách đã dẫn).

Nét độc đáo “rất Bích Khê”, như Hàn Mặc Tử nhận xét “là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu…” (sách đã dẫn).

Chính vì thế, rất táo bạo, ông là người thứ hai sau Nguyễn Du vẽ “tranh lõa thể” bằng thơ, nhưng người đọc tuyệt nhiên không thấy sự gợi dục mà như được chứng kiến một kiệt tác của tạo hoá:

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ,/ Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này/ Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?/ Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm/ Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?/ Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?/ Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường/ Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc./ Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc/ Vài chút trăng say đọng ở làn môi.

Hàn Mặc Tử đã bình luận xác đáng: “Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đương nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ…”(sách đã dẫn).

Sự sáng tạo độc đáo này được thể hiện thành công trong Xuân tượng trưng, Đồ mi hoa, Nghê thường, Hiện hình… và một số bài khác. Tất nhiên cũng có bài vượt ngưỡng cho phép khiến yếu tố nhục cảm và cuồng loạn được thể hiện khá đậm nét, có thể gây phản cảm nơi người đọc - chẳng hạn bài Xác thịt. Có thể cảm thông, cũng như Hàn Mặc Tử, đây là tác động của tình trạng bệnh tật, căng thẳng và kéo dài mà tác giả phải chịu đựng.

Đọc thơ Bích Khê, ta như đắm mình trong thế giới của màu sắc, mùi hương, hình ảnh, âm thanh. Chắc hẳn Bích Khê cũng như những nhà Thơ mới am hiểu sâu sắc thơ Pháp đều tâm đắc với quan niệm của Baudelaire “Les parfums, les couleurs et les sons se repondend” (Mùi hương, màu sắc, âm thanh hô ứng với nhau). Verlaine nhấn mạnh một cách thuyết phục: với chủ nghĩa tượng trưng, nhạc điệu là yếu tố được quan tâm trên hết và trước hết (De la musique avant toute chose). 

Thật thú vị, quan điểm của Verlaine đã gặp gỡ với truyền thống thơ ca Việt Nam - một nền thơ đặc biệt coi trọng tính nhạc, coi nhạc điệu là một phương diện căn bản của hồn dân tộc. Có thể kể hàng loạt bài thơ gây ấn tượng sâu sắc với người đọc: Tiếng đàn mưa, Mộng cầm ca, Đây bản đàn thơ, Tiếng sáo dưới trăng…

Nhạc tính trong thơ ông được thể hiện một cách linh hoạt qua vần, nhịp, cách ngắt câu, cấu tạo hình ảnh. Chẳng hạn, đọc Tỳ bà, ta ngạc nhiên một cách thú vị khi toàn bài gồm 7 khổ thơ, 28 câu, 196 chữ tất cả đều vần bằng.

Nàng ơi! Tay đêm đương giăng mềm/ Trăng đan qua cành muôn tay êm/ Mây nhung pha màu thu trên trời/ Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Vàng sao nằm in trên hoa gầy/ Tương tư người xưa thôi qua đây/ Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề/ Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ/ Dây đàn yêu đương run trong mơ/ Hồn về trên môi kêu em ơi/ Thuyền hồn không đi lên chơi vơi

Tôi qua tim nàng vay du dương/ Tôi mang lên lầu lên cung thương/ Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng/ Tình tang tôi nghe như tình lang

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi/ Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi/ Đâu tìm đào nguyên cho xa xôi/ Đào nguyên trong lòng nàng đây thôi

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu/ Sao tôi không màng kêu: yêu em/ Trăng nay không nàng như trăng thiu/ Đêm nay không nàng như đêm hiu

Buồn lưu cây đào xin hơi xuân/ Buồn sang cây tùng thăm đông quân/ Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông

Người đọc như được tác giả dẫn vào thế giới tĩnh lặng và ở đó chỉ âm vang hư thực, mờ ảo của tiếng đàn truyền thống.

Bích Khê đã khuất đúng 70 năm. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, có lúc con người công dân Bích Khê bị vu oan một cách phi lý, con người nghệ sĩ Bích Khê chỉ được nhắc tới một cách dè dặt. Nhưng giờ đây, trong không khí của thời kỳ đổi mới, mọi chuyện đã khác. Họ Lê ở Thu Xà (Quảng Ngãi) đã dành cho ông một ngôi từ đường trang trọng. Thành phố Quảng Ngãi đã có một đường phố thoáng rộng gắn biển tên Bích Khê. Và chúng ta đã long trọng tổ chức một đêm thơ để tưởng nhớ Bích Khê - một ngôi sao trong bầu trời sao của phong trào Thơ mới vào ngày 23/1/2016 vừa qua.

Tự nhiên tôi nhớ đến bài Thơ tuyệt mệnh của ông, rất ngắn, chỉ có 4 câu:

Thân bệnh: ngô vàng mưa lá rụng
Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi

Hai câu cuối của bài thơ thể hiện lòng tin yêu cuộc sống, đã được con cháu Bích Khê khắc trên bia mộ của nhà thơ tài hoa nhưng yểu mệnh.

Việc làm ấy rất có ý nghĩa.

Trần Hữu Tá

Các tin khác

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Nhiều năm sau khi không còn xuất hiện đều đặn trên sóng truyền hình, Đại tá Nguyễn Thị Mai Thao - Phó giám đốc Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) vẫn gặp những người nhận ra mình chỉ bằng giọng nói.

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.