Alexander Kopaski - Điệp viên “độc nhất vô nhị”

Dù không được xếp vào danh sách những điệp viên danh tiếng trong lịch sử, nhưng cuộc đời của Alexander Kopaski - còn gọi là Igor Orlov - chắc chắn thuộc loại “độc nhất vô nhị”.

Những tài liệu được phát hiện và công bố cho thấy, Kopaski có thể là điệp viên phục vụ cho 4 cơ quan tình báo: Tình báo Xôviết, Đức phát xít, cơ quan tình báo trong quân đội của tướng Vlasov (còn gọi là Quân đội giải phóng nước Nga – thực chất là một đội quân ngụy do phát xít Đức dựng lên trong thời gian chiến tranh với Liên Xô) và Cơ quan Tình báo trung ương Mỹ (CIA).

Cho đến bây giờ, vẫn chưa có một tài liệu thực sự tin cậy nào giúp xác định được rõ ràng, anh ta có phải là một điệp viên siêu hạng của KGB hay chỉ là kẻ gió chiều nào xoay chiều ấy…

Tay chơi có hạng

Alexander Kopaski bắt đầu rơi vào tầm ngắm của tình báo Mỹ vào đầu năm 1951. Khi đó, chi nhánh của CIA tại Tây Berlin đang tìm kiếm các điệp viên trong hàng ngũ những người Nga lưu vong.

Kopaski (trái) trước khi được tung vào hậu phương quân Đức.
Kopaski (trái) trước khi được tung vào hậu phương quân Đức.

Với mục đích này, người Mỹ liên hệ với SBONR (gọi tắt của Liên minh đấu tranh giải phóng các dân tộc Nga), một tổ chức của những tên phản động Nga lưu vong được thành lập những năm 1947-1948 tại Tây Berlin. Trong số các ứng viên được giới lãnh đạo SBONR giới thiệu cho CIA có cả Kopaski. 

Kopaski kể cho người Mỹ rằng, anh ta sinh năm 1924 tại Kiev, nhưng học tập và lớn lên tại Moscow. Sau khi chiến tranh bùng nổ, Kopaski được gửi vào học tại Trường đào tạo tình báo tại Novosibirsk và ra trường với quân hàm trung úy.

Tháng 10/1943, anh ta được tung vào vùng hậu phương quân Đức tại Ba Lan và ngay lập tức bị thương nặng và bị bắt. Tại bệnh viện, Kopaski đã đồng ý làm việc cho tình báo Đức phát xít. Nhiệm vụ cụ thể mà tình báo Đức giao cho anh ta trong giai đoạn này chưa được làm rõ, do tất cả các hồ sơ của mật vụ phát xít tại mặt trận phía Đông đã bị tiêu hủy.

Chỉ biết rằng đến cuối chiến tranh, Kopaski phục vụ trong quân đội của tướng Vlasov. Tháng 5/1945, anh ta bị quân Mỹ bắt giữ và đưa vào tạm giam tại trại tập trung cũ Dachau của phát xít. Đến năm 1946, Kopaski được lựa chọn vào làm việc cho “Tổ chức Gehlen” – cơ quan tình báo đầu tiên của Tây Đức do viên tướng phát xít Reihard Gehlen thành lập, tiền thân của BND (Cơ quan tình báo của CHLB Đức hiện nay). 

Kopaski là một tay chơi với bề ngoài khá chải chuốt – quần áo giày tất luôn bóng lộn, uống rượu tốt và đặc biệt là khả năng “sát gái”. Ưu điểm cuối cùng này về sau lại chính là một chuyên môn trong đời hoạt động tình báo của Kopaski. Rời khỏi Cơ quan của Gehlen vào năm 1947, Kopaski chuyển sang làm việc cho một công ty tư nhân của Đức. Về sau người Mỹ mới điều tra ra được, Kopaski không phải tự ra đi, mà là bị đuổi vì tội giả mạo báo cáo gửi lên trên.

Năm 1948, Kopaski kết hôn với cô gái 23 tuổi người Đức Elenoir Stirner, người đã chết mê chết mệt anh ta ngay từ cái nhìn đầu tiên. Sau khi cưới, Kopaski mới thú nhận với vợ về việc mình đang làm việc cho CIA. Năm 1949, Kopaski được điều tới Berlin, hoạt động dưới cái tên mới là Frank Koivitz. Stirner dù không làm việc cho CIA, nhưng lại là người thường xuyên đánh máy các báo cáo cho chồng nên hiểu rất rõ công việc của Kopaski.

Chiến dịch “Redcap”

Ngay từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh Triều Tiên, người Mỹ đã rất lo lắng muốn biết, liệu Stalin có sẵn sàng phát động một cuộc chiến tranh qui mô lớn hay không.

Kết quả là CIA đã triển khai một chiến dịch qui mô toàn cầu có tên “Redcap” nhằm tăng cường tuyển mộ hay thúc đẩy các sĩ quan Xôviết đào ngũ, mở rộng khả năng khai thác thông tin về các chính sách và động tĩnh của Liên Xô. Để đạt được mục tiêu này, người Mỹ ưu tiên sử dụng trò “mỹ nhân kế” với lực lượng chủ yếu là những cô gái Đông Đức, đầu tiên là đội ngũ gái bán hoa.

Kopaski chính là người trực tiếp tham gia tuyển mộ những cô gái này. Cứ mỗi buổi chiều tối, anh ta lại ăn mặc bảnh bao, lang thang tại những chốn vui chơi ở Đông Berlin. Liên lạc viên Paul Garbler của Kopaski kể rằng, chỉ riêng tại một quán bar, “cậu nhóc” (tên lóng mà Garbler thường gọi Kopaski) đã có trong tay tới 12 nguồn tin – trong đó có 11 gái điếm và 1 nhạc công.

Nhưng Kopaski thật ra không có được những thành công đáng kể trong lĩnh vực công tác này. Các sĩ quan Xôviết thường có xu hướng tránh né các cô gái Đức, cũng như rất hoảng sợ khi nhận được lời đề nghị cộng tác với người Mỹ. Những quan hệ ngoài giá thú trong quân đội Xôviết khi đó thường bị kỷ luật rất nặng nề.

Chiến dịch thành công nhất của Kopaski chính là vụ nhử được trung tá Nikolay Svetlov chạy sang Tây Berlin – đã từng được mô tả trong cuốn sách “Battleground Berlin: CIA vs. KGB in the Cold War” của David Murphy và  Sergei Kondrashev.

Để làm được điều này, Kopaski đã phải đích thân tới Karlshorst, tự nhận mình là anh họ cô người tình của tay trung tá, thông báo cô ta đã có chửa và dọa sẽ báo lên cấp trên. Sau những cuộc tranh cãi kéo dài, Svetlov cuối cùng đã đồng ý ngồi tàu điện ngầm, cùng Kopaski chạy sang Tây Berlin. Có điều CIA đã không khai thác được thông tin đáng kể nào từ tay trung tá, do anh ta chẳng có quan hệ gì với cơ quan tình báo.

Svetlov kiên quyết khước từ việc ở lại phương Tây, còn đến khi được cho trở về, anh ta đã lặn mất tăm. Một vài điệp vụ tiếp sau nữa của Kopaski cũng chẳng đem lại hiệu quả đáng kể nào. CIA bắt đầu tỏ ra chán ngán tay điệp viên tay chơi này và muốn ruồng rẫy anh ta.

Trong vòng vây nghi ngờ

Nhà Kopaski hoạt động tại Berlin trong vài năm rồi được điều tới Frankfurt, nơi cô vợ Stirner cũng được nhận vào làm việc cho CIA, chủ yếu là xem trộm các thư từ gửi tới Liên Xô và từ đây gửi đi. Thời gian này, cả hai  làm việc cầm chừng, chỉ mong ngóng CIA giúp họ nhận được quốc tịch Mỹ.

Chứng minh nhân viên dân sự của quân đội Mỹ của Orlov (Kopaski) trong thời gian hoạt động tại Berlin.
Chứng minh nhân viên dân sự của quân đội Mỹ của Orlov (Kopaski) trong thời gian hoạt động tại Berlin.

Cuối cùng đến tháng giêng năm 1961, cả nhà Kopaski cũng được cho về Mỹ, nơi anh ta từ trước đó được hứa hẹn sẽ có một công việc tại trụ sở CIA. Tuy nhiên khi đặt chân lên đất Mỹ, Kopaski chỉ nhận được cái ngoảnh mặt lạnh lùng của các quan chức CIA. Anh ta đành cay đắng nhận khoản tiền trợ cấp một lần 27 ngàn USD sau đó tìm được việc làm tài xế xe tải cho tờ Washington Post, chở báo vừa in đi giao ngay trong đêm với tiền lương vỏn vẹn 60 USD mỗi tuần.

Ngay cả chuyện nhận quốc tịch Mỹ đối với Kopaski cũng chỉ là “bánh vẽ”. Sau một vài năm sống chật vật, nhà Kopaski cuối cùng cũng gom được một ít tiền để mua trả góp một xưởng sản xuất khung tranh. Mọi chuyện có vẻ như đã an phận với Kopaski nếu như không có một bất ngờ xảy ra.

CIA vào thời gian đó đã ráo riết tìm kiếm một “con chuột chũi” trong hàng ngũ của mình từ ba năm qua. Nguyên nhân bắt nguồn từ lời khai của thiếu tá KGB Anatoli Golisyn, kẻ trong một chuyến công tác tại Helsinki  đã đào thoát sang phương Tây vào năm 1961.

Là một kẻ có trí nhớ khá đặc biệt, những thông tin mà Golisyn tiết lộ đã gây thiệt hại nặng nề cho tình báo Xôviết, điển hình là việc lộ tẩy hai điệp viên quan trọng là Kim Philby và Anthony Blunt. Tại CIA, Golisyn khẳng định về một nguồn tin quan trọng của KGB có mật danh “Sasha”, có họ bắt đầu bằng chữ K, và trước đó từng hoạt động tại Berlin. 

Sau một thời gian điều tra, người Mỹ bắt đầu chú ý tới Kopaski vì nhiều chi tiết trùng hợp – anh ta có họ bắt đầu bằng chữ K, từng hoạt động tại Berlin.

Đến giữa năm 1964, CIA quyết định chuyển giao vụ Kopaski cho FBI điều tra. Kể từ thời điểm này, gia đình anh ta bị theo dõi và giám sát chặt chẽ.

Dù không bị bắt giữ, nhưng nhà riêng của Kopaski bị bất ngờ khám xét giữa đêm khuya. Chưa kể, anh ta còn được yêu cầu phải kiểm tra qua máy phát hiện nói dối. Kể cả khi đã qua được thủ tục này, áp lực lên nhà Kopaski vẫn không hề thuyên giảm. Cứ vài ngày, các nhân viên FBI lại tới nhà xưởng của cô vợ Stirner, tra hỏi về đủ mọi chuyện.

Những gì đã diễn ra có vẻ như đã vượt quá sức chịu đựng của Kopaski. Tòa nhà của tờ Washington Post khi đó lại nằm kề lưng với đại sứ quán Liên Xô. Kopaski về kể với vợ rằng, sau một buổi đi đưa báo, anh ta đã cả liều trèo tường vào đại sứ quán xin cư trú chính trị và đã được chấp thuận.

Thậm chí cả hai bên đã lên kế hoạch cho một cuộc chạy trốn. Đến phút cuối, Kopaski đã quyết định từ bỏ kế hoạch này do vợ không chịu đi, cũng như FBI đã chính thức xin lỗi và xóa bỏ mọi nghi ngờ.

Giả thuyết không bao giờ được xác minh

Chỉ huy bộ phận phản gián của CIA là James Angleton trên thực tế vẫn tin tưởng vào những lời khai của Golisyn. Theo nhận định của ông ta, Kopaski đã được tung vào hậu phương quân Đức với nhiệm vụ chính là xâm nhập được vào bộ tham mưu của tướng Vlasov, và từ đó vẫn duy trì liên lạc với Moscow. Angleton vẫn kiên trì tìm kiếm những bằng chứng để lật tẩy Kopaski. Một trong những đầu mối mới đã được tìm ra vào tháng 3-1966.

Vào thời điểm đó, tay sĩ quan KGB Igor Kozlov nhân chuyến công tác tới Mỹ đã tìm cách móc nối đề nghị hợp tác với CIA. Kozlov khẳng định Kopaski (hay Orlov) là một điệp viên kỳ cựu của KGB, có điều lại không đưa ra được bằng chứng cụ thể. Bản thân Kozlov về sau cũng bị CIA phát hiện đã lừa dối họ về nhiều thông tin liên quan đến công việc của anh ta. Đó là lý do khiến mọi nghi ngờ đối với Kopaski vẫn chỉ dừng lại ở chuyện giả thuyết.

Ngày 2/5/1982, Kopaski qua đời ở độ tuổi 60 vì căn bệnh ung thư. Lời trối trăng duy nhất trước khi chết của ông ta là yêu cầu vợ hỏa táng, đem bình tro của mình tới đại sứ quán Liên Xô để mang về chôn ở nước Nga. Bà vợ đã không làm theo di nguyện này vì không thể tin Kopaski làm việc cho tình báo Xôviết. Dù đã chết, nhưng vai trò thực sự của Kopaski vẫn là một chủ đề khiến FBI phải đau đầu.

Tháng 8/1985, tay sĩ quan KGB Vitali Yurchenko (trước đó đã từng hoạt động tại Washington) đã đào tẩu trong một chuyến công tác tại Roma. Tên này tiết lộ tên tuổi của 3 điệp viên Xôviết, trong đó có cả Kopaski (2 người còn lại đã bị người Mỹ bắt giữ và xét xử).

Theo lời Yurchenko, Kopaski không những hoạt động cho tình báo Xôviết, mà còn thuyết phục cả hai người con trai của mình cùng tham gia. Tuy nhiên đến tháng 11 năm đó, Yurchenko lại chạy trốn trở về Liên Xô và tuyên bố, anh ta bị CIA bắt cóc. Còn lại mấy người con trai của Kopaski sau đó đã liên tục bị FBI gọi đến thẩm vấn.

Năm 1999, học giả Christopher Andrew với sự hợp tác Vasili Mitrokhin đã cho xuất bản cuốn sách “Thanh gươm và lá chắn: Hồ sơ lưu trữ của Mitrokhin và lịch sử bí mật của KGB”, được viết chủ yếu dựa trên những tài liệu mật được sao chép của chuyên gia lưu trữ hồ sơ Mitrokhin tại KGB, trước khi nhân vật này chạy trốn sang phương Tây.

Một trong những bản báo cáo này cho biết, Kopaski vào năm 1949 đã từng gặp gỡ một phái đoàn quân sự Xôviết tại Baden-Baden (Đức), sau đó được đưa tới Đông Berlin, nơi anh ta lại thỏa thuận trở thành điệp viên của KGB. Theo chỉ thị của Bộ An ninh quốc gia, Kopaski phải nỗ lực giành được sự tin cậy của giới lãnh đạo SBORN để có thể dễ dàng phát triển về sau. 

Chân tướng thực sự của Kopaski-Orlov cho tới giờ vẫn được coi là một bài toán hóc búa chưa có lời giải. Bất chấp việc đã tích cực điều tra trong suốt 15 năm, FBI đã không thể tìm ra bất cứ bằng chứng nào về tội danh của anh ta. Riêng ông trùm phản gián James Angleton của CIA vẫn tin chắc Kopaski là một điệp viên của Liên Xô cho đến những giờ phút cuối của đời mình.

Ngày 10/4/1987 (tức là chỉ một tháng trước khi qua đời), Angleton trong một bài trả lời phỏng vấn của tờ New York Times vẫn khăng khăng cho rằng Igor Orlov chính là điệp viên mật danh “Sasha” của Liên Xô. “Đó là một con người thiên tài” – Angleton đã phải thốt lên như vậy khi đánh giá về Kopaski.

Đinh Linh (tổng hợp)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.