Các điểm chính trong phán quyết gần 500 trang về vụ kiện Trung Quốc

Phán quyết cuối cùng dày gần 500 trang của Tòa trọng tài tại PCA đã xác định thắng lợi thuộc về Philippines trong vụ kiện Trung Quốc.

Toà Trọng tài ban hành phán quyết

Phán quyết được Toà Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (sau đây gọi là “Công ước”) trong vụ kiện giữa Cộng hoà Philippines và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi là ‘Philippines” và ‘Trung Quốc’) hoàn toàn nhất trí thông qua và ban hành.

Vụ kiện trọng tài này liên quan đến vai trò của các quyền lịch sử và nguồn xác định quyền hưởng các vùng biển tại Biển Đông, quy chế của một số cấu trúc cụ thể và các vùng biển của các cấu trúc này, và tính hợp pháp của các hành vi của Trung Quốc mà Philippines cho là vi phạm Công ước. Phù hợp các giới hạn của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước, Toà Trọng tài đã nhấn mạnh Toà không phán quyết các vấn đề nào liên quan đến chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đất liền và không tiến hành phân định bất kỳ một ranh giới trên biển nào giữa các bên của vụ kiện.

Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố ‘nước này không chấp nhận cũng như không tham gia vào tiến trình trọng tài do Philippines đơn phương khởi xướng’. Tuy nhiên, Phụ lục VII quy định rằng “việc vắng mặt của một bên hoặc việc một bên không thực hiện việc biện hộ không tạo nên bất kỳ rào cản nào cho tiến trình tố tụng”. Phụ lục VII cũng quy định rằng trong trường hợp một bên không tham gia vào tiến trình tố tụng, Toà Trọng tài “phải chắc chắn rằng Toà có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp cũng như nội dung kiện phải được chứng minh đầy đủ cả về mặt pháp lý và thực tế”. 

Theo đó, trong suốt quá trình tố tụng, Toà Trọng tài đã thực hiện các biện pháp cần thiết để kiểm tra tính xác thực của các đệ trình do Philippines đưa ra, bao gồm cả việc yêu cầu Philippines cung cấp thêm các lập luận, đặt ra các câu hỏi cho Philippines trước và trong hai phiên tranh tụng, chỉ định các chuyên gia độc lập có nhiệm vụ báo cáo Toà về các vấn đề kỹ thuật và thu thập các bằng chứng về mặt lịch sử liên quan đến các cấu trúc tại Biển Đông và chuyển các bằng chứng này để bên bình luận.

Trung Quốc, thông qua Bản Tuyên bố lập trường ban hành tháng 12 năm 2014 cũng như các các tuyên bố chính thức khác, cũng tuyên bố rõ ràng rằng theo quan điểm của nước này, Toà Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ kiện. Điều 288 của Công ước quy định: ‘Trong trường hợp xảy ra tranh chấp về việc liệu một toà hay một cơ quan trọng tài có hay không có thẩm quyền, vấn đề này sẽ do chính toà hay cơ quan trọng tài đó quyết định’. 

Theo đó, Toà Trọng tài đã tổ chức một phiên tranh tụng về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc vào tháng 7 năm 2015 và ban hành một Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc vào ngày 29 tháng 10 năm 2015, quyết định về một số vấn đề liên quan đến thẩm quyền và sẽ để lại một số vấn đề đê tiếp tục xem xét. Toà Trọng tài, sau đó, tiếp tục triệu tập và tổ chức một phiên tranh tụng về các vấn đề nội dung của vụ kiện từ ngày 24 đến 30 tháng 11 năm 2015.

Phán quyết được ban hành hôm nay giải quyết các vấn đề về thẩm quyền mà Toà chưa quyết định trong Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc cũng như giải quyết các vấn đề về nội dung thực chất đối với các yêu cầu mà Philippines nằm trong thẩm quyền của Toà. Theo quy định tại Điều 296 của Công ước và Điều 11 của Phụ lục VII Phán quyết này có tính ràng buộc pháp lý và có tính chung thẩm.

Quyền lịch sử và Đường 9 đoạn:

Toà Trọng tài nhận thấy có thẩm quyền để xem xét tranh chấp giữa các bên liên quan đến quyền lịch sử và nguồn của quyền hưởng các vùng biển tại Biển Đông. Về mặt nội dung thực chất, Toà kết luận rằng Công ước quy định một cách toàn diện về các quyền đối với các vùng biển, và việc bảo vệ các quyền tồn tại trước Công ước liên quan đến tài nguyên đã được xem xét, nhưng chúng không được thông qua và quy định tại Công ước. 

Theo đó, Tòa kết luận rằng trong phạm vi quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên trong các vùng biển ở Biển Đông, quyền này bị xóa bỏ do chúng không phù hợp với chế định vùng đặc quyền kinh tế trong Công ước. Toà cũng nhận thấy dù trong lịch sử, những người đi biển cũng như ngư dân từ Trung Quốc cũng như từ các nước khác đã sử dụng các đảo tại Biển Đông nhưng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy về mặt lịch sử Trung Quốc đã chỉ một mình thực hiện việc kiểm soát vùng nước này cũng như tài nguyên tại đây. Vì vậy, Toà kết luận không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong đường 9 đoạn.

Quy chế của các cấu trúc:

Tiếp theo, Toà Trọng tài xem xét đến quyền hưởng các vùng biển và quy chế của các cấu trúc. Trước tiên, Toà tiến hành đánh giá liệu một số bãi do Trung Quốc yêu sách có nổi khi thuỷ triều lên đỉnh hay không. Các cấu trúc nổi khi thủy triều lên cao sẽ tạo ra quyền ít nhất đối với lãnh hải 12 hải lý trong khi các cấu trúc chìm khi thuỷ triều lên cao sẽ không tạo ra quyền như vậy. 

Toà nhận thấy rằng các bãi này đã bị làm biến đổi mạnh mẽ do việc bồi đắp, xây dựng và Toà cũng nhắc lại rằng Công ước phân loại các cấu trúc dựa trên điều kiện tự nhiên của chúng và dựa vào các tài liệu lịch sử để đánh giá các cấu trúc. Sau đó, Toà tiến hành đánh giá liệu các có cấu trúc nào trong số các cấu trúc do Trung Quốc yêu sách có thể tạo ra vùng biển ngoài phạm vi 12 hải lý không. 

Theo Công ước, các đảo tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa nhưng các “đảo đá không thích hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”. Toà kết luận rằng quy định này phụ thuộc vào khả năng khách quan của các cấu trúc khi chúng ở tình trạng tự nhiên để có thể duy trì một cộng đồng dân cư ổn định hoặc các hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào các nguồn lực từ bên ngoài hoặc hoàn toàn chỉ có tính chất khai thác. 

Toà cũng nhận thấy rằng sự có mặt của các nhân viên công vụ trên các cấu trúc là phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài và không phản ánh khả năng của các cấu trúc. Toà cũng thấy rằng các bằng chứng lịch sử có ý nghĩa hơn và nhận thấy quần đảo Trường Sa trong lịch sử được sử dụng bởi một số nhóm nhỏ các ngư dân và rằng đã có một vài hoạt động khai thác phân dơi và đánh cá của Nhật Bản. 

Toà kết luận rằng việc việc sử dụng ngắn hạn như vậy không phải là sự định cư của một cộng đồng ổn định và rằng các hoạt động kinh tế trong lịch sử chỉ là hoạt động mang tính khai thác. Theo đó, Toà kết luận rằng không một cấu trúc nào tại Trường Sa có khả năng tạo ra các vùng biển mở rộng. 

Toà cũng quyết định rằng các đảo Trường Sa không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất. Trên cơ sở kết luận không một cấu trúc nào mà Trung Quốc yêu sách có khả năng tạo ra vùng đặc quyền kinh tế, Toà nhận thấy Tòa có thể không cần phải phân định ranh giới biển mà vẫn có thể tuyên bố rằng một số vùng biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin vì không bị chồng lấn với bất cứ quyền hưởng vùng biển nào mà Trung Quốc có thể có.

Tính hợp pháp của các hoạt động của Trung Quốc: Tiếp theo, Toà xem xét tới tính hợp pháp của các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhận thấy rằng các vùng nhất định nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Toà cho rằng Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này bằng việc (a) can thiệp vào hoạt động đánh cá và thăm dò dầu khí của Philippines, (b) xây dựng đảo nhân tạo và (c) không ngăn chặn ngư dân Trung Quốc đánh bắt ở khu vực này. 

Toà cũng khẳng định rằng ngư dân từ Philippines (cũng như ngư dân từ Trung Quốc) đã có quyền đánh cá truyền thống ở Bãi Scarborough và rằng Trung Quốc đã ngăn chặn các quyền này bằng cách hạn chế việc tiếp cận khu vực này. Toà cũng khẳng định rằng các tàu chấp pháp của Trung Quốc gây ra một rủi ro va chạm nghiêm trọng một cách bất hợp pháp khi họ đã trực tiếp cản trở các tàu của Philippines.

Gây hại cho môi trường biển: Toà xem xét ảnh hưởng với môi trường biển của các hoạt động bồi đắp và xây dựng nhân tạo trên 7 cấu trúc của Quần đảo Trường Sa gần đây của Trung Quốc, và nhận thấy rằng Trung Quốc đã gây hại nghiêm trọng với môi trường của các rặng san hô và vi phạm nghĩa vụ bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương và môi trường sống của các loài đang suy yếu, bị đe doạ và bị huỷ diệt. 

Toà cũng cho rằng nhà chức trách Trung Quốc đã nhận thức được việc ngư dân Trung Quốc đã đánh bắt các loài rùa biển, san hô và trai khổng lồ quý hiếm trên diện rộng ở Biển Đông (bằng các biện pháp gây ra tổn hại nghiêm trọng với môi trường rặng san hô) và đã không thực hiện các nghĩa vụ của nước này trong việc ngăn chặn và chấm dứt các hoạt động này.

Làm trầm trọng thêm tranh chấp: Cuối cùng, Toà xem xét liệu các hoạt động của Trung Quốc kể từ khi Toà bắt đầu xem xét vụ việc có làm trầm trọng thêm tranh chấp giữa các bên hay không. Toà nhận thấy rằng Toà thiếu thẩm quyền để xem xét tác động của vụ đối đầu giữa tàu hải quân của Philippines và tàu hải quân và chấp pháp của Trung Quốc ở Bãi cạn Second Thomas, cho rằng tranh chấp này liên quan đến các hoạt động quân sự và do vậy, nằm ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc. 

Tuy nhiên, Toà nhận thấy rằng việc bồi đắp và xây dựng đảo nhân tạo trên quy mô lớn của Trung Quốc gần đây là không phù hợp với nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước trong quá trình giải quyết tranh chấp, trong chừng mực mà Trung Quốc đã gây ra những tác hại không thể sửa chữa được với môi trường biển, xây dựng một đảo nhân tạo lớn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, và phá huỷ các bằng chứng về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc ở Biển Đông mà là một phần của tranh chấp giữa các Bên.

Tóm tắt mở rộng của phán quyết của Toà sẽ được trình bày dưới đây.

Toà được thành lập vào ngày 21 tháng 6 năm 2013, phù hợp với chu trình được quy định trong Phụ lục VII Công ước Luật biển, để đưa ra phán quyết về tranh chấp được đệ trình bởi Philippines. Toà bao gồm Thẩm phán người Ghana Thomas A. Mensah, Thẩm phán người Pháp Jean-Pierre Cot, Thẩm phán người Phần Lan Stanislaw Pawlak, Giáo sư người Hà Lan Alfred H.A. Soons và Thẩm phán người Đức Rüdiger Wolfrum. Thẩm phán Thomas A. Mensah là Chủ tịch Tòa Trọng tài. Toà Trọng tài thường trực là cơ quan đăng ký trong quá trình xét xử.

Thông tin thêm về vụ việc có thể được tìm thấy ở trang www.pcacases.com/web/view/7, bao gồm Phán quyết về Thẩm quyền, các Quy tắc về thủ tục, các Thông cáo báo chí trước đây, biên bản phiên toà và ảnh. Trình tự thủ tục, đệ trình bởi Philippines. và các báo của của chuyên gia của Toà sẽ được công bố trong một thời gian thích hợp, cũng như bản dịch không chính thức bằng tiếng Trung của Phán quyết của Toà. 

PV

Các tin khác

Sức mạnh tri thức và khát vọng tự cường

Sức mạnh tri thức và khát vọng tự cường

Chưa bao giờ người trẻ có điều kiện tiếp cận tri thức và công nghệ thuận lợi như hiện nay. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, họ có thể học ngoại ngữ, lập trình hay sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để giải quyết công việc một cách hiệu quả nhất. Nhưng tiếp cận tri thức có đồng nghĩa với khả năng sáng tạo? Và làm thế nào để những lợi thế của thời đại số trở thành sức mạnh phát triển đất nước? Những câu hỏi ấy càng đáng suy ngẫm trong dịp kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15/10/1956 – 15/10/2026).

Giá trị và thước đo hiệu quả của Nghị quyết

Giá trị và thước đo hiệu quả của Nghị quyết

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (5-8/10/2026) đã xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền; công tác cán bộ; kiểm tra, giám sát; đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh; trọng dụng nhân tài và phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng điều đáng suy ngẫm nhất của Hội nghị có lẽ không nằm ở số lượng văn kiện, mà ở một câu hỏi được đặt ra ngay trong phiên khai mạc.

Đánh thức nguồn lực đảng viên làm kinh tế tư nhân

Đánh thức nguồn lực đảng viên làm kinh tế tư nhân

Hai mươi năm sau Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 về đảng viên làm kinh tế tư nhân, câu hỏi đặt ra đã khác. Không còn là đảng viên có được làm kinh tế tư nhân hay không mà là làm thế nào để trí tuệ, vốn liếng, kinh nghiệm quản trị và tinh thần tiên phong của đội ngũ ấy trở thành một nguồn lực thực sự cho phát triển.

Siết quản lý, giữ an toàn bầu trời Đà Nẵng

Siết quản lý, giữ an toàn bầu trời Đà Nẵng

Trước sự phát triển nhanh của thiết bị bay không người lái và những nguy cơ tiềm ẩn đối với an ninh, an toàn hàng không, TP Đà Nẵng đang tăng cường quản lý từ khâu đăng ký, cấp phép, giám sát vùng trời đến phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm.

Bài 1: Những thước phim vài phút và cái giá không chỉ tính bằng tiền

Bài 1: Những thước phim vài phút và cái giá không chỉ tính bằng tiền

Phim ngắn được sản xuất bằng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó có vô số sản phẩm có nội dung gần giống nhau, có nhiều tình tiết vô lý, thậm chí không ít sản phẩm dung tục tràn ngập trên không gian mạng. Đáng lo ngại là những sản phẩm này vẫn thường xuyên len lỏi vào văn phòng làm việc của nhiều cơ quan, đến tận góc bếp của các bà nội trợ và từng căn phòng ngủ của các gia đình...

Hiểu đúng về thông tin giám sát phòng, chống rửa tiền với "khách hàng VIP"

Hiểu đúng về thông tin giám sát phòng, chống rửa tiền với "khách hàng VIP"

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), dư luận xuất hiện một số thông tin chưa đúng về bản chất pháp lý và một số quy định tại Dự thảo Thông tư quy định về trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, liên quan tới việc giám sát “khách hàng VIP”.

Thu hẹp án tử hình từ góc nhìn hợp tác tư pháp quốc tế

Thu hẹp án tử hình từ góc nhìn hợp tác tư pháp quốc tế

Đề xuất tiếp tục thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự không đồng nghĩa với nới lỏng trách nhiệm đối với những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Dự thảo cho thấy, trong khi bỏ mức hình phạt cao nhất ở một số tội danh, các chế tài nghiêm khắc vẫn được duy trì, thậm chí phạm vi xử lý hình sự ở một số hành vi còn được mở rộng. Đặt trong bối cảnh quốc tế, sự điều chỉnh này còn có ý nghĩa khi khác biệt về án tử hình ngày càng trở thành một vấn đề phải giải quyết trong dẫn độ, tương trợ tư pháp và hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.

Xác lập “lằn ranh đỏ” của AI để bảo vệ con người, phát triển an toàn, bền vững

Xác lập “lằn ranh đỏ” của AI để bảo vệ con người, phát triển an toàn, bền vững

Trí tuệ nhân tạo (AI) càng mạnh, tốc độ ra quyết định càng nhanh nhưng nếu tốc độ của máy móc vượt quá khả năng kiểm tra và chịu trách nhiệm của con người, một sai sót nhỏ có thể trở thành hậu quả lớn, khó lường. Vấn đề cốt lõi là chúng ta phải làm chủ AI, kiểm soát rủi ro và không để máy móc vượt khỏi sự kiểm soát của con người. Trong bối cảnh phát triển và hội nhập sâu rộng với thế giới, Việt Nam cần làm gì để xây dựng thành công “lá chắn AI” quốc gia vừa đảm bảo an toàn nhưng không mất cơ hội?

Giữ niềm tin vào đội ngũ thầy thuốc

Giữ niềm tin vào đội ngũ thầy thuốc

Những vụ án xảy ra trong lĩnh vực y tế thời gian qua đặt ra một câu hỏi khó, nhưng không thể né tránh: vì sao những lớp kiểm soát được thiết kế để ngăn ngừa sai phạm lại có thể bị xuyên qua?

Nhà cao tầng mọc theo tuyến Metro số 1 Bến Thành-Suối Tiên.

Kỳ 1: "Mở khóa" không gian bầu trời và lòng đất

Trong quá trình mở rộng không gian phát triển, TP Hồ Chí Minh đang chuyển từ tư duy khai thác quỹ đất theo chiều ngang sang tổ chức lại cả không gian trên mặt đất và dưới lòng đất. Với cơ chế TOD gắn phát triển đô thị với giao thông công cộng, cùng chính sách quản lý, khai thác không gian ngầm, thành phố đang từng bước mở thêm dư địa cho hạ tầng, giao thông và các hoạt động kinh tế.

Hãy xây dựng “lá chắn số” cho chính mình

Hãy xây dựng “lá chắn số” cho chính mình

Để tránh bị sập... "bẫy lừa", các chuyên gia khuyến cáo nên vận dụng nguyên tắc: “Dừng - Kiểm tra - Xác minh”. Cụ thể, "Dừng" là dừng lại trước những yêu cầu bất thường; "Kiểm tra" là kiểm tra thông tin, người liên hệ và đường link; "Xác minh" là xác minh qua kênh chính thức trước khi cung cấp dữ liệu hoặc chuyển tiền. Cùng với đó, phải thực hiện tốt nguyên tắc “Ba không - Ba có”,...