Chuyện làng, chuyện  phố của một nhà văn xuất thân giáo chức

Nhà văn tôi muốn nói là PGS, TS Phạm Quang Long, nguyên Trưởng khoa Văn học, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH&NV, nguyên Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Ông Phạm Quang Long nghỉ hưu từ chức vụ Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội, nhưng nghe chừng ông khá ngại nhắc đến cái chức này,, ông chỉ vui lòng tự nhận mình là một ông thầy giáo về hưu mà thôi. Một ông thầy giáo mà đến lúc nghỉ hưu mới phát lộ diện mạo của một cây bút văn xuôi sung sức.

1. Từ khi hưu đến nay, ông viết liên tục và đã xuất bản 5 tiểu thuyết: "Cuộc cờ", "Lạc giữa cõi người", "Mùa rươi", "Chuyện làng", "Chuyện phố" - cuốn tiểu thuyết thứ sáu.

1.jpeg -0
Đại diện Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn chúc mừng nhà văn Phạm Quang Long tại tọa đàm tiểu thuyết "Chuyện Phố".

Tôi đặc biệt thích thú với 2 tác phẩm "Chuyện làng" (NXB Công an nhân dân, 2020) và "Chuyện phố" (NXB Phụ nữ Việt Nam, 2024). Không màu mè, Phạm Quang Long chỉ kể lại những chuyện ở làng và những chuyện ở phố (Hà Nội) mà ông từng nghe kể, từng chứng kiến hoặc tự trải nghiệm, nhưng đằng sau đó là cả một nỗ lực để nắm bắt và hiểu thấu về văn hóa nông thôn và văn hóa đô thị, về sự phức tạp trong lối nghĩ và lối ứng xử của người nông dân và người thị dân, nhất là ở những khúc rẽ lịch sử, những biến động lớn của đời sống xã hội.

Tiểu thuyết "Chuyện làng", với thời gian của truyện kể trải dài từ những những ngày tiền khởi nghĩa tháng Tám cho đến sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất. Chỉ một cái làng Đồng Hòa nhỏ bé thôi mà đã xảy ra biết bao nhiêu chuyện, những chuyện phổ biến, mang diện mạo bóng dáng của biết bao cái làng vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Nào là cải cách ruộng đất, quy thành phần, đấu tố địa chủ với không ít tình cảnh thương tâm, đau khổ và những hệ lụy về sau. Nào là chuyện nông dân phải góp đất đai trâu bò của mình để vào hợp tác xã, đi làm đổi công. Làm ra không ít nhưng chẳng bao giờ ăn được đủ no.

Ngay lúc ấy nhiều người đã "chân trong chân ngoài" để thoát khỏi cái cảnh "một người làm việc bằng hai/ để cho cán bộ mua đài mua xe". Nào là chuyện chiến tranh ập đến, làng vợi đi gần hết do thanh niên trai tráng phải lên đường nhập ngũ. Người thì vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường, kẻ sống sót trở về thì thương tật cả ngoài cơ thể lẫn trong tâm hồn. Làng như trải qua cơn bão dữ nhưng người nông dân vẫn cắn răng chịu đựng, tiếp tục lầm lũi làm ăn, lầm lũi sống tiếp.

Nhưng đó là nhìn về đại thể, và ở phần dương bản. Còn ở phần âm bản, nhà văn Phạm Quang Long đã dựng nên khá nhiều nhân vật với những tiểu tiết tính cách xem ra đúng là thuộc về "căn rễ tính cách" nông dân Việt Nam, nông dân miền Bắc. Nhưng nổi bật lên và sinh động một cách đầy thích thú trong số các nhân vật nông dân của "Chuyện làng", phải là nhân vật lão Thích.

Đầu óc mưu mẹo, biết cách thò ra thụt vào, tiến thoái đúng lúc đúng chỗ, hiểu người để ứng xử cương hay nhu cho thuận việc của mình, lão Thích chẳng hành động gì mấy nhưng hiệu quả có được bao giờ cũng là cao nhất. Khởi nghĩa cướp chính quyền nổ ra, lão đã tranh thủ thời cơ để được công nhận là cơ sở bí mật của cách mạng từ thời tiền khởi nghĩa. Mỗi khi có khách "từ trên" xuống làm việc, lão chẳng nề hà tốn kém, sẵn sàng đảm bảo việc ăn uống đầy đủ cho cán bộ tại nhà và làm nên hình ảnh một người quan trọng trong mắt bà con làng xóm. Với uy tín ấy, khi hợp tác xã hóa, lão dứt khoát vẫn giữ nguyên cái thửa ruộng rìa làng của mình, tự làm tự ăn, để khỏi chịu cảnh phải đi hầu không công cho đứa khác, mà rốt cuộc chính quyền cũng chịu không làm gì được lão.

Cái sự giỏi tính toán và biết cách thu xếp cuộc đời một cách tốt nhất tùy theo hoàn cảnh ấy của lão Thích, có lẽ đã được nhà văn Phạm Quang Long "phiên ra" một cách đích đáng nhất bằng hình ảnh lão luôn đi đôi dép bằng mo cau và không bao giờ gây ra tiếng động. Bí ẩn như phù thủy. Tinh ranh như Bá Kiến, tôi cam đoan rằng rồi đây nhân vật lão Thích của Phạm Quang Long sẽ sớm trở thành "cổ điển", ngang với những nhân vật nông dân nồng danh khét tiếng trong văn chương Việt Nam như lão Hạc, lão Am, lão Khúng, lão Khổ. Ngang, nhưng vẫn rất khác, rất cá biệt.

2. Từ những chuyện làng sẽ đến những chuyện phố, tương ứng với lịch sử đường đời của tác giả Phạm Quang Long, từ một cậu thiếu niên học phổ thông ở quê lúa Thái Bình đến một sinh viên của khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Đi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô, rồi về nước giảng dạy và sau đó liên tục giữ những chức vụ quản lý.

2.jpeg -0

"Chuyện phố" của ông kể những câu chuyện về Hà Nội, về những con người sống ở Hà Nội và những con người được xem như là "người Hà Nội gốc". Thời gian của truyện kể được bắt đầu từ trước năm 1945 khá lâu, khi ông Mưu còn là người tỉnh lên Hà Nội học việc buôn bán rồi lấy vợ là con gái của nhà buôn ở phố Hàng Đào. Tiếp đến là những ngày gia đình vợ chồng con cái ông Mưu tản cư ra vùng kháng chiến của chính phủ Cụ Hồ Chí Minh. Mất vợ và chết một đứa con, ông đưa những đứa còn lại về thành, lo việc làm ăn buôn bán nuôi con cho qua hết thời chín năm, qua hết cuộc cải tạo công thương, cuộc kháng chiến chống Mỹ và thời kỳ bao cấp dài dằng dặc. Nhưng những sự kiện chính của tiểu thuyết "Chuyện phố" là nói về thời sau này, thời Hà Nội cùng cả nước bước vào đổi mới, mở cửa, làm ăn theo quy luật kinh tế thị trường với biết bao sự thay đổi như trong và sau một cơn sốt vỡ da.

Nhân vật của "Chuyện phố" thì nhiều, nhưng nhân vật mang tính cách "chìa khóa" để mở ra những vấn đề tác giả muốn nói, thì chỉ có hai: Tuấn, con trai thứ ông Mưu, nhà báo chuyển ngành từ bộ đội; và Lăng, bạn của Tuấn, trai quê, sử gia trẻ tuổi, giảng viên môn lịch sử thuộc một trường đại học lớn ở Hà Nội. Chính nhờ hai nhân vật này mà "Chuyện phố" của Phạm Quang Long không chỉ hiện diện như một nỗ lực phác ra cái panorama của Hà Nội suốt mấy chục năm trong cuộc chuyển dịch từ một xã hội bao cấp sang một xã hội vận hành theo những quy luật của nền kinh tế hàng hóa, mà tác phẩm còn thực sự là một mũi khoan từ cái bề mặt phong nhiêu bộn bề của đời sống thăm dò xuống cái bề sâu Hà Nội, mảnh đất văn hiến nghìn năm này, ngõ hầu nhận ra văn hóa Hà Nội thực sự là thế nào, phẩm chất tính cách làm nên con người Hà Nội thực sự là ra sao?

Đọc "Chuyện phố" ta có thể thấy một nhà báo Tuấn bụi bặm, nganh ngạnh, nhưng chân thành và hết lòng hết dạ với bạn đã đóng vai một thổ công - dẫu sao thì Tuấn cũng sinh ra và lớn lên ở Hà Nội - đưa sử gia Lăng đi khắp các ngóc ngách "ngõ nhỏ phố nhỏ" ở Hà Nội để tìm lại những ký ức về một Hà Nội cổ xưa, những mảnh hồn thấm đẫm "Hà Nội tính" giữa xô bồ bát nháo phố phường của ngày hôm nay. Những ký ức, những mảnh hồn ấy không phải là những vật, mà chính là những con người đang lưu giữ và thực hành một tinh thần sống, một phong cách sống theo kiểu "Hà Nội ròng".

Có hai nhân vật như thế. Một, là ông Lâm, bạn của ông Mưu, bố Tuấn, một người đàn ông đàn ngọt, giỏi ngoại ngữ, tài hoa và rất đa tình, kiểu người không bao giờ từ chối những niềm vui trần thế - đặc biệt là phụ nữ đẹp và thức ăn ngon - nhưng tuyệt đối phải đảm bảo nguyên tắc thanh sạch và yên lành, không để ảnh hưởng đến cuộc sống và sự an toàn của bất kỳ ai. Và hai, là người phụ nữ tên Khanh, chị họ của Tuấn, "một gái phố cổ điển hình về phẩm chất các bà, các cụ thời xưa dạy con cái nhưng cũng lại nổi tiếng về thái độ trực tính và chỉ thích sống theo ý mình".

Chị Khanh xinh đẹp, bằng cấp cao, chuyên môn giỏi, lại có chồng làm cán bộ to ngất ngưởng, "thế nhưng chị lại chẳng coi những thứ hơn người của mình ra gì", điều chị mong muốn chỉ là một cuộc sống gia đình hạnh phúc, bình thường và giản dị, yêu thương và được yêu thương, chứ không phải một cuộc sống mà mỗi thành viên trong gia đình lại bị cuốn đi theo một hướng khác nhau, theo một cách bất tự giác. Có thể nói, hai nhân vật này là hai con người, hai cách nhập thế và hai số phận cuộc đời rất khác nhau, nhưng tác giả (vô tình hay hữu ý?) đã khiến ở họ bật lên một điểm chung: đó là lòng tự trọng và tinh thần tự nhiên. Tự trọng là để giữ lấy phẩm giá làm người. Tự nhiên là để mình được làm chính mình, một cách nhuần nhị, cởi mở, nhưng không cố kiễng, không phô trương, chỉ cần không gây hại đến ai là được. Và đó mới thực sự là cái cốt tủy của văn hóa "người Hà Nội".

Dĩ nhiên là "Chuyện phố" phong nhiêu hơn nhiều so với những gì tôi vừa trình bày. (Và "Chuyện làng" cũng vậy). Ở đây còn là những câu chuyện và những suy ngẫm về nghề buôn, nghề giáo, nghề báo, chuyện từ chiến tranh biên giới đến chuyện "bài Hoa" một thời, chuyện từ những mưu mô thủ đoạn nơi công sở đến những chiêu trò tranh giành quyền lợi giữa anh em trong nhà vào cái thời mạt pháp v.v... Những "tiểu tự sự" ấy thể hiện một cấu trúc đan dệt, móc nối những chuyện đời tưởng như lặt vặt nhưng hóa ra lại thành một bức tranh vân cẩu đầy phức tạp về xã hội hôm nay. Làng hay phố thì cũng đều không yên ả, và càng ngày càng không yên ả. Nhưng ít ra, những xáo động chao đảo của làng và của phố cũng được xoa dịu phần nào khi có người kể về nó và mời gọi người đọc cùng nghĩ về nó thật nghiêm túc. Theo tôi, ông giáo/ nhà văn Phạm Quang Long là người đã thành công khi thực hiện điều đó.

Hoài Nam

Các tin khác

Đi chênh vênh giữa tin đồn và sự thật

Đi chênh vênh giữa tin đồn và sự thật

Người ngoài nghề thường nghĩ phóng viên mảng nội chính - pháp luật là những người thích nghe chuyện án mạng. Nghĩ thế cũng không sai hẳn. Nhưng, đi lâu mới biết thứ giữ chân họ lâu nhất không phải hung thủ, cũng không phải bản án. Mà là những chi tiết nằm ngoài hồ sơ, những mảnh vụn sự thật vẫn còn ấm hơi người mà không một văn bản tố tụng nào chịu ghi lại.

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Nhiều năm sau khi không còn xuất hiện đều đặn trên sóng truyền hình, Đại tá Nguyễn Thị Mai Thao - Phó giám đốc Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) vẫn gặp những người nhận ra mình chỉ bằng giọng nói.

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.