Vòng tròn với Vũ Từ Trang

Nhân đọc "những vòng tròn không đồng tâm" của nhà thơ Vũ Từ Trang - NXB Hội Nhà văn, 2010.

Tập thơ này có nét khác so với các tập trước của Vũ Từ Trang: Không hướng thơ ra hiện thực ngoài đời mà lại quay vào những kỷ niệm, những chiêm nghiệm của lòng mình. Thơ nhỏ giọng như lời tâm sự, thì thầm, đứt nối, vừa nói vừa lắng nghe lòng mình. Bài thơ ngắn gọn, gợi nhiều hơn nói, giữ cảm xúc liền mạch, ngân nga, chữ hết tình còn. Tôi có cảm giác tác giả viết khá dễ dàng, câu chữ tự trôi trong cảm xúc. Đôi lúc ngơ ngác thấy cảm xúc dừng mà thơ như chưa xong kết cấu để thành bài, thơ mới như một thao tác đánh dấu nội tâm, lưu giữ một khoảnh khắc của lòng mình. Nhưng chính thơ là vậy. Và là đủ. Tìm kết cấu cho hình thức hay tìm kết ý cho nội dung là thói quen đóng khung cho tranh (thành bức tranh). Tập thơ này như một triển lãm nội tâm chưa lên khung, hóa ra để thế lại dễ thân với người thưởng ngoạn. Tuy thế, hình như tác giả vẫn cứ băn khoăn, ông làm một cái khung chung cho cả tập, ấy là bài thơ "tổng kết", chốt lại, ở cuối tập. Tôi thấy chả cần. Chốt lại có khi thành nhốt lại, chặn đứng những ngân nga thanh nhẹ rất dư ba của tập thơ.

Hai mảng cảm xúc bao trùm: hoài niệm và chiêm nghiệm. Cả hai đều là thao tác của ký ức. Tập thơ là một hơi lặn của tâm hồn tác giả vào dĩ vãng. Nó là nhu cầu tâm lý người vào tuổi lớn (Vũ Từ Trang sinh năm 1948). Do vậy mà chân thực, dột lòng mình cũng nao nao lòng người. Với người viết, đây là những giây phút chìm đắm thật sự hạnh phúc, được sống lại, sống thêm, được trở về mình. Hoài niệm là gì? Là tất cả như xưa mà không như xưa nữa. Là tất cả còn đây mà không thể trở về. Là còn đó và ở đâu, “Hoa đào còn đó trơ trơ/ Mà người năm ngoái bây giờ ở đâu?”. Từ Thôi Hộ đến Bích Câu kỳ ngộ Vũ Thời Trân, lại phả vào hơi hướng hiện thực đương đại thô mộc tạo nên cái nên thơ xốc vác của bây giờ. Ấy là sắc hoa tường vi gần cái vòi nước hỏng trong thời bom đạn ác liệt, "Chiếc bánh mốc ăn trong chiều mưa rét".

Kỷ niệm còn nguyên đó, hoa tường vi ở đâu? "Hoa tường vi bây giờ đã chết/ em có còn nhớ hoa ấy không?". Câu hỏi như một lời nhắc nhẹ, gợi bâng khuâng hơn là trách cứ. Tác giả không trách ai đã để tường vi chết. Thơ không bận tâm về khía cạnh này mà chấp nhận nó như một đương nhiên. Điều thơ muốn là truy lĩnh quá khứ với toàn bộ những gì đã trải. Ký ức sâu đậm của lứa nhà thơ này là chiến tranh, là thể chế xã hội bao cấp, có gian lao, có cay cực, thơ không giấu điều đó, nhưng thơ cũng không mổ xẻ vân vi vào đó, thơ coi nó như cái phông để rọi lên những buồn vui, những tâm trạng. "Hoa tường vi bây giờ đã chết" là một tâm trạng, tiếc nuối nét tinh khiết, cao sang của thuở khó khăn mà trong trẻo. Hoài niệm vốn hàm chứa tiếc nuối. Nghe nhạc ABBA, nhớ lại thời đói và rét ấy, để rồi lưu luyến nhớ tiếc chính tâm hồn mình thuở ấy: đầy khát vọng, vui buồn cũng nguyên vẻ tinh khôi.

Về lại phố Tràng, cảnh khác nhưng lòng mình không khác, chiếc đồng hồ cũ đứt cót rồi, nó không còn chạy nhưng tiếng tích tắc vẫn vang trong tâm trí. Để níu lấy dĩ vãng, ông thành bất động, không dám đụng vào hiện tại, sợ tan đi hình bóng cũ. Đây là một ghi nhận tâm lý không phải một phương châm ứng xử hiện thực. Người viết đang cơn mộng du, săn tìm trong vô thức. Lôgíc ở đây là lôgíc tâm trạng. Và đấy chính là nét khác biệt của tập thơ này với các tập trước của Vũ Từ Trang. Nó tinh tế, nó nhạy cảm, nó là chuyện của lòng người. Nhưng có một nguy cơ, nó dễ dắt người đọc lạc vào cõi mung lung sương khói, hư ảo. Vũ Từ Trang may sao không lạc vì ông đi ngắn đường, chưa kịp lạc thì ông đã ra khỏi không gian ấy. Bài thơ gọn thoáng, ít câu, ít chi tiết, có khi chỉ một chi tiết đủ gây ấn tượng.

Bài "Cà phê lối cũ", ấy là chi tiết nắng: lúc hai người đoàn tụ: quanh chân vàng nắng rơi, lúc cả hai cùng xa vắng: chỉ còn nắng dùng dằng như muốn nói. Đây là phẩm chất nên có của thơ (có một thời thơ thiên về giải thích, lý sự nên thường dài). Bài "Tựa" dùng một cấu trúc ngôn ngữ làm tứ nhưng vẫn giữ được tình vì đích đến của bài là gợi chứ không diễn ngôn hiện thực. Người đọc không rõ hiện thực sự kiện nhưng hình dung được hiện thực tâm trạng. Bài thơ chỉ 12 dòng, số câu thơ còn ít hơn thế, bốn dòng đoạn giữa chỉ là một câu.

Hoài niệm thường dắt đến chiêm nghiệm, chiêm nghiệm quá khứ (nhớ lại và suy nghĩ), tách riêng chiêm nghiệm ra chỉ để nói tính trội có tính đúc kết thế sự trong một số bài. Vũ Từ Trang nhận xét: Thuở đầu đời mơ mộng nên hai với hai là năm. Bây giờ, khi đã qua bao nhiêu dốc cao suối sâu, mới biết hai với hai là bốn. Nhưng cuộc sống lại đổi thay và ông nhận ra hai với hai là ba hoặc lại là năm! Kể cũng buồn nhưng không đến nỗi bi quan vì người trong cuộc ý thức được tình thế của mình: "thuyết tương đối của thời tương đối". Không phải tương đối của A. Einstein mà là thứ "chân lý lâm thời". Hình ảnh mây trôi trong câu thơ cuối có gì gần gụi với bức tranh vân cẩu, chiếu lên "chí trai nông nổi" giúp người đọc nhận ra sự trưởng thành của chủ thể tùy thời. Có bài thơ ngắn mang tên "Ngộ". Ngộ vào lúc "bàn chân chớm mỏi" rõ là một đốn ngộ thế sự, một bừng tỉnh vào tuổi tri thiên mệnh: "Con đường ngày một lùi xa" (tôi chắc tác giả muốn nói cái đích đến ngày một lùi xa, càng đi càng lùi xa), ấy là phía trước mặt, còn ngoái lại thì cũng xa mất rồi cái nơi xuất phát. Tình thế cũng nan giải: đang còn giữa đường mà chân thì chớm mỏi. Ngôi chùa Tháp Bút, Quan Âm nghìn mắt nghìn tay mà con đò cô đơn của người bỏ chùa lại đang chìm, chìm dần trong tiếng chuông ngân nga, long trọng, thanh bình. Tác giả thu hẹp tình huống vào tâm sự cá nhân, không có ý định khái quát xã hội. Giọng thơ bình thản nhưng có chút gì thật buồn, xa xót. Đôi chỗ nhói lên nỗi thảng thốt, nỗi lo âu về những giá trị tinh thần bị coi nhẹ.

"Đêm 16", nghĩa là sau đêm rằm, trăng tròn đã tròn rồi, cây ướt mưa, đường ngủ bụi, xe dừng, nhà lặng, đèn tắt, trang sách nằm mê "tư tưởng tuột ra ngoài con chữ", Vũ Từ Trang có hai câu thắt buộc: "chỉ có vầng trăng cổ tích/ sáng ngẩn ngơ trên bầu trời bỏ quên". Thuộc về cổ tích nên trăng bị bỏ quên dù rằng vẫn sáng, ánh sáng ngẩn ngơ như lỗi mốt (!). Trở lại trung du đồi chè tán cọ bên nỗi nhớ thường tình cái "thuở tuổi trăng rằm" là một phát hiện tâm lý: những nét cố hữu của thiên nhiên làm lòng ta vang động những âm thanh dĩ vãng. Phát hiện của Vũ Từ Trang thường nhỏ nhẹ như một nhận xét hoặc nêu lại một chân lý đã thành phổ biến (Vô vi) nhưng bao giờ cũng làm ta cảm động. Đây là tư tưởng được dẫn đến từ trải nghiệm, không phải do tư biện nên tràn đầy cảm xúc riêng tư. Tác giả lại diễn đạt bằng giọng thầm, độc thoại nên sức cảm thông cao.

Không gian chủ yếu của tập này là không gian hoài niệm, không gian ảo. Không gian thật có tồn tại trong mấy bài thơ bây giờ lại như bị lẫn vào hư ảo. Đấy là không gian những miền nghèo, vùng sâu vùng xa của "Rừng", của "Ngôi nhà Chiêm Hóa", "Lại về Đức Thọ", "Ngược núi Thiên Thai", của "Phận cò"... Thiên nhiên mênh mông, phận người lầm lụi "em bé chân đất/ oằn mình xay ngô". Địa danh Thiên Thai gợi cảnh bồng lai, hạc trắng nhưng anh Cứ, "bạn tôi nhoài người đẩy xe lưng trần đen đủi". Rồi "hạc vàng bay đi, người lưng trần ở lại". Trong cơn say điển tích, tác giả làm lạc mất con hạc trắng của Thế Lữ, mà chính ông thả bay ở đầu bài thơ, rồi túm nhầm vào con hạc vàng của Thôi Hiệu tận bên Tàu. Thế là không gian hiện thực cũng thành không gian ảo. May sao thơ không buồn như thơ hạc vàng bay mất, gian khổ mà không buồn, tác giả đã kịp tỉnh cơn mộng du trong tiếng trẻ nô cười lúc xe lúa anh Cứ đẩy vào trong ngõ.

Tập thơ dễ đọc. Thích nhất là có sức gợi, tứ thoáng, tình mở. Tranh không đóng khung mà. Tuy vậy tác giả như vẫn có chút e ngại thơ chưa đến độ. Với loại thơ lấy gợi làm cứu cánh, e ngại đó bộc lộ một kinh nghiệm bút pháp. Nhưng ở đây thơ chưa đến độ không phải vì "chưa đóng khung" mà nếu có - là ở chỗ cảm (cảm giác, cảm xúc) chưa đủ dẫn đến tình (tình cảm), tình chưa dẫn đến ý (ý tưởng, chủ đề). Bài thơ chơi vơi, thoáng nhẹ, là tài, nhưng nhẹ quá lại hóa bay mất. Ranh giới rất mỏng manh giữa thành và không thành (xin so sánh "Nho nhỏ nhà mình" và "Vai em gió lướt"). Chính vì thế tập thơ này mở ra một hướng thử thách khá thú vị với Vũ Từ Trang.

18/5/2011

Vũ Quần Phương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).