Võ Diệu Thanh: Ngược xuôi lối người, khóc cười chốn quê

Đọc Võ Diệu Thanh chắc chắn là buồn. Nhưng, độc giả cứ tìm kiếm những cuốn sách của chị. Tựa như đâu đó trong trang văn mang tên Võ Diệu Thanh luôn có những phần số lay động cảm xúc độc giả.

Họ đón đợi. Họ thấm thía. Họ thắt thẻo. Rười rượi tấc dạ. Nhưng, cũng bẫng nhẹ một nỗi đời. Câu chữ của chị như khởi phát từ thân phận của kiệt cùng nỗi đau để rồi nhàn tản thả trôi bi ai mà sống trong tâm thế an lành trong cuộc người dâu bể.

nhà van võ di%3fu thanh trong b%3f phim tài li%3fu t%3f noi t%3fn cùng.jpg -0
Nhà văn Võ Diệu Thanh.

1. Võ Diệu Thanh gây một sự ám ảnh với tôi bằng tác phẩm “Viên đạn về trời”. Kỳ thực, khi gấp trang sách cuối lại, đầu óc tôi mụ mị trong một không gian đặc quánh của nỗi đau tàn chiến đan xen giữa đớn đau mất mát, ghim guốc thù hận và lay lắt yêu thương. Cuốn tiểu thuyết giăng mắc những nghịch lý của nội tâm để từ đó cuốn người đọc đi theo hành trình bứt thoát của cô gái trẻ chưa bao giờ rời xa nòng súng, chưa bao giờ quên đi ký ức về cái chết của ông nội và cha.

Tôi mê mẩn cách chị dựng không gian u uẩn, hoài vọng và đầy khát khao sống của nhân vật. Nhưng, tôi cũng sợ lối miêu tả gai góc, trần trụi và dụng từ thô mộc đến mức đớn đau khảm lên tâm tưởng của mình. Cuộc chiến ấy, có lẽ nằm sâu trong tiềm thức chị, như chính chị đã chia sẻ. Đó là một phần ký ức tuổi thơ của chị. Chị vẫn thường mơ thấy mình xơ xác giữa khói súng và tiếng bom đạn đì đùng. Giữa trận bom B52 của rừng U Minh năm tháng chiến tranh đó, ba chị là người duy nhất sống sót, trong khi những đồng đội chẳng vẹn nguyên thi thể.

Có lẽ những ám hằn tâm trí của mình về chiến tranh mà văn chương Võ Diệu Thanh nổi bật nhất chính là viết về mảng đề tài này, dẫu chị sinh năm 1975, có nghĩa là đất nước đã thống nhất. Thậm chí sự kiện Ba Chúc nơi quê hương An Giang của chị xảy ra, khi đó chị cũng chỉ mới 3 tuổi. Nhưng, chị vẫn khắc khoải về những số phận còn, mất cùng câu chuyện hậu chiến đầy thê lương từ cuộc thảm sát ấy.

Chị đi và tìm kiếm những người may mắn sót lại để nghe họ kể. Từ những câu chuyện ấy, Võ Diệu Thanh đã dựng lại một cuộc khát máu tàn nhẫn nhất của quê xứ mình. Mấy chục năm trôi qua, xương thịt hòa vào đất, hóa sóng nước, lắng thành phù sa nuôi nấng người Ba Chúc, nhưng nỗi đau ấy, muôn triệu hạt mưa vẫn không xóa sạch nổi. Chị viết bằng chính nỗi đau của một ngòi bút thấu cảm. Chị nhìn cuộc chiến bằng tâm thế chẳng khóc nhưng phải nhớ. Nhớ để thêm thương thân phận con người trong thời tao loạn. Thương phần số mỏng manh giữa cuộc trần đầy nghiệt ngã này.

Cuốn sách “Về từ hành tinh ký ức”, tính đến thời điểm ra đời như là cuốn sách đầu tiên viết thẳng thắn, đầy chân thực về cuộc diệt chủng ở Ba Chúc. Ngay lập tức, cuốn sách gây ra sự chấn động của xã hội. Không chỉ “tường trình” về nỗi đau quá sức người, tội ác phi nhân tính mà “Về từ hành tinh ký ức” còn đi sâu vào dư chấn của nạn nhân. Từ cuốn sách ấy, Đài Truyền hình Việt Nam đã chuyển thể thành phim tài liệu “Từ nơi tận cùng” phát sóng năm 2019.

Run rủi đường văn, may mắn tôi gặp chị. Ngay từ lần đầu tiên, hai chị em đã như thân gần. Bởi cái tính hào sảng và chân phương của dân Nam Bộ mà chúng tôi tỉ tê cả nửa ngày trời. Võ Diệu Thanh ân cần chia sẻ về nghề viết, và những câu chuyện bên ngoài cuộc đời mình.

Buồn đến tận đáy bể trầm luân. Hoặc vui tận nóc đỉnh trần gian. Giản đơn cuối mỗi câu chuyện, luôn là nụ cười bằng an. Kiểu phớt đời thây kệ tất cả những gièm pha, những moi móc lẫn sanh nạnh, chị vẫn chỉ là cô giáo dạy mỹ thuật tiểu học và ruổi rong lòng vòng Cửu Long để viết lách.

Sau tất cả, mình vui hay buồn âu cũng do lòng mình. Sau tất cả, mình còn được người ta nói đến, dẫu khen hay chê, thì cũng là do mình còn sống trong mắt họ. Sợ nhất, với một người, sống sờ sờ đó, mà thiên hạ coi như đã chết. Đó mới là cái sợ của một con người.

2. Nhưng dạo gần đây, bạn bè văn chương hay gọi chị là “Diệu Thanh thần y”, bởi chị bắt đầu theo thầy học và tự tay chữa vài căn bệnh xương khớp, đau nhức bằng điện châm, bằng ngải cứu, bằng các loại thuốc từ cây lá quê mùa nhưng lại hiệu nghiệm bất ngờ. Nhớ lần đi trại viết cùng chị ở Ninh Bình cách đây 3 năm, cứ tối đến là phòng chị trở thành nơi xoa bóp, hơ điện cho những thành viên có “triệu chứng”. Khách hàng thường xuyên ghé đến gõ cửa phòng túc trực là Nguyễn Thị Kim Hòa, tôi và cả Trương Chí Hùng lẫn Lê Vũ Trường Giang. Chuyện văn, chuyện đời lẫn chuyện bệnh cứ rôm rả đến tận khuya.

Võ Diệu Thanh luôn tận tình cùng bạn văn, những “con bệnh” nhây nhất của chị. Bất kể ngày đêm, tôi vẫn cứ nhắn gọi chị mỗi khi thấy tay chân hay sống lưng mình có vấn đề. Lần nào cũng vậy, chị luôn chỉ cẩn thận, thậm chí chục lần điện thoại là chục lần nhắc tôi về chùa, nơi chị đang phụ chữa bệnh miễn phí cho bà con để chị tự tay làm cho.

Mới đây thôi, chị lên Sài Gòn có việc, lại điện thoại nằng nặc tôi phải sang cho chị làm, để lâu ngày khó trị, mấy cái bệnh về xương và đau nhức kỳ thực luôn là bệnh của người viết. Muốn viết nữa thì phải lo mà trị sớm. Cúp điện thoại mà lòng tôi lại thấy thương bà chị mình gì đâu. Kiểu của Võ Diệu Thanh là kiểu người lăn xả bất chấp vì bạn bè, vì những điều mà chị thấy cần thiết phải làm cho những người chị trân quý.

t%3fp t%3fn van mùa hoa trên nh%3fng l%3fi sông.jpg -1
Bìa cuốn “Mùa hoa trên những lối sông” của nhà văn Võ Diệu Thanh.

Nhưng, Võ Diệu Thanh cũng là người thâm trầm. Đi qua nhiều nỗi buồn, thậm chí những lần ngờ vực của những bạn bè, đàn em chị từng yêu thương, giúp đỡ, thì chị vẫn chọn im lặng, để thời gian là câu trả lời chính xác nhất.

Với chị, tuổi đời và tuổi nghề đủ để chị biết mình nên nói hay nên im trước mọi thị phi. Lắm khi ngồi cùng chị, nghe chị thở dài mấy câu chuyện ngớ ngẩn quanh mình, rồi lại cười hiền queo: “Kệ đi em, mai mốt người ta cũng tự hiểu”. Câu trả lời của chị khiến tôi nhớ đến một câu văn chị đã viết trong tác phẩm “Viên đạn về trời”: "Lửa vẫn cháy, nó cháy đến khi nào tàn sứ mệnh của nó".

Cái mai mốt của chị, là bao lâu, tính ngày, tính tháng, hay tính năm? Tuy hỏi vậy, nhưng tôi vẫn biết, Võ Diệu Thanh đã qua rồi cái tuổi chấp niệm, với chị bây giờ là chấp nhận và để mọi thứ cứ tự nhiên như dòng trôi của số phận. Đoạn đời này đôi khi có những quãng sống mà mình phải đối diện với buồn vui, thị phi, lẫn hạnh phúc. Thôi thì chọn lấy hạnh phúc để có cớ mà sống cho trọn một kiếp phù sinh này. Ai cũng có một lần để sống. Nên với chị, sống là phải vui. Tìm cho mình niềm vui mỗi ngày để vịn vào đó mà thong dong nói cười.

3. Có lẽ chính tâm thế thong dong đó, nên mỗi bước ruổi rong dọc ngang mảnh đất chín nhánh sông này luôn lưu lại cho Võ Diệu Thanh những câu chuyện, mà không bằng thể loại này cũng bằng thể loại khác, Võ Diệu Thanh phải viết ra, kể lại cho bằng hết, như trút lòng với những con nước khiến chị say mèm.

Như chính trong tập tản văn “Mùa hoa trên những lối sông”, cuốn sách chị mới ra mắt độc giả. Hầu hết là những câu chuyện dạt dào cảm xúc được chị dẫn dắt như một dòng sông trôi nhẹ nhàng lúc uốn lượn, trôi thao thiết lúc gấp khúc nhưng sâu lắng đậm đà những nếp quê tánh người của sóng nước Cửu Long.

Đọc tập sách mới này, lại thấy một Võ Diệu Thanh nhẩn nha với thân phận của người và thân phận sông. Sông cũng như người linh đinh cuộc phù vân miên viễn. Bến nào để cập, mùa nào để vui, khắc nào để hạnh phúc? Chẳng ai có thể đoán định được. Bởi mỗi ngày mai là một ngày mới với chúng ta, mỗi con sông là một dòng trôi. Nhưng, tất cả những gieo neo thác ghềnh của cuộc đời này, chỉ biến mất khi mình biết cảm hóa chính mình, để tha thứ cho nỗi đau, để thù hận hóa thành mây trời.

Tôi tin, đó là một sự thoát thai của chính cái tôi bản ngã mà Võ Diệu Thanh đã thấu cảm. Chẳng phải ngẫu nhiên mà chị chọn khởi đầu cho tập tản văn bằng bài viết “Mùa vụ hoang sơ”. Bởi trong niệm lành mà Võ Diệu Thanh gửi đến độc giả là câu chuyện của Ba Chúc bằng góc nhìn đã tĩnh tại: Ba Chúc không phải đất sống mà để rèn giũa thâm tâm.

Đi qua những xưa xa cũ càng, Võ Diệu Thanh lại hong khô ký ức bằng những câu chuyện tái sinh trên mảnh đất này, nơi dòng sông vẫn nở những mùa hoa bát ngát dâng người, dâng đời và dâng lên những anh linh tiền nhân mở cõi. Bao nhiêu lối sông là bấy nhiêu mùa hoa của đạo hiếu, của lễ nghĩa, của tình người và hơn hết là của những người con sống chết, khóc cười gì cũng từ nước mà lớn lên. 

Tống Phước Bảo

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).