Văn xuôi Du An – Một mảng màu vùng cao Tây Bắc!

Đã có hai tập truyện ngắn “Lông gà và lá chuối”, “Rừng người, người rừng”, mới đây, nhà văn Du An có “Quãng đen quãng trắng”, được nhận giải C cuộc thi tiểu thuyết, truyện ký về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống”, lần V (2022 - 2025) do Bộ Công An – Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức. Xin giới thiệu vài nét văn xuôi của nhà văn nhiều nội lực, chuyên viết về miền núi cao Tây Bắc.

image001.jpg -0
Nhà văn Du An.

Mảng đề tài chính của Du An là những mảnh đời, những phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số mộc mạc, thuần phác, của các thầy cô giáo yêu nghề, những học trò vươn lên trong khó khăn.

Tiểu thuyết “Quãng đen quãng trắng” đã lột tả được cái nét riêng chỉ có trong sinh hoạt của đồng bào Mông: “Hết những ngày đi nương vắng tanh, bản lại đông vui nhộn nhịp. Nhà nhà rộn vang tiếng cối xay, mùi thơm từ mèn mén, rượu ngô, bánh ngô nhập vào làn sương, cứ lơ lửng luẩn quẩn trên mái nhà, ngoài sân, ngọn cây sa mu... Bên hiên nhà, các bà các chị đang xe lanh, thêu váy, rì rầm trò chuyện. Ngoài sân, trẻ con đánh cù, ném pao cười đùa ầm ĩ. Con ngựa, con lợn, con gà… được no bỗng ngoan hẳn, chả hí réo kêu đòi gì nữa”.

Thiên về bút pháp tả thực, nhưng tả thực có hồn, sinh động, tươi tắn, chỉ có ở miền núi rẻo cao gắn liền đá, với rừng, với gió và sương muối… Nhờ có vốn sống như một người “bản địa” (quê Phú Thọ nhưng có hơn 30 năm làm nghề dạy học, về hưu cũng ở lại Tây Bắc), nhà văn đặc tả dốc núi, đúng với hiện thực chính nó: “mấy cái dốc dựng đứng sát mặt, đi như trèo cây, chỉ sợ trượt chân một cái thì ngủ dưới vực với rắn”.

Nói về tả vật, Du An là một trong ít nhà văn tả rắn vừa gợi cảm giác sợ hãi, vừa gây tò mò: “Trên trần đá, một con rắn đang thả đầu xuống, cái lưỡi chẻ đôi thò thụt nhịp nhịp quay quay như tìm kiếm”. Không “trực quan sinh động”, sẽ không có những hình ảnh ấy. Có căn cứ để xếp văn xuôi Du An thuộc loại văn xuôi phong tục. Phong tục là phông nền, là chi tiết, là chất keo kết dính các hình tượng, tham gia vào cả cấu trúc câu văn, bố cục.

Bút pháp truyện ngắn Du An thường lách sâu vào những mảnh đời vất vả, nghèo khó đầy chất cảm thương. Hình tượng người phụ nữ - những số phận bấp bênh, hẩm hiu xuất hiện cao nhất trong số các loại nhân vật. Người đọc bị ám ảnh, xúc động bởi hình ảnh người đàn bà mù nhưng tự trọng, vẫn lao động lam làm, không làm phiền người khác (Người rừng, rừng người).

Một phụ nữ cô đơn, “quá lứa nhỡ thì”, từng làm thanh niên xung phong rồi ở lại với rừng trong “Bên hồ”. Lại có những người cả tin, vừa đáng thương, đáng trọng, cả đáng giận. Từng yêu một chàng kỹ sư xây dựng, có thai đúng lúc người yêu phải đi nghiệm thu công trình. Đi mãi. Chị sinh con, rồi một mình nuôi con giữa rừng thẳm.

Nhưng không hề tuyệt vọng. Sự sống vẫn ở phía trước: “Bảy năm nay, nàng bỏ hẳn mót ngô, núi đồi nương rẫy; nàng chỉ đi phụ vữa, dọn nhà, trông trẻ… Con gái nàng đã biết nấu cơm, nấu cám lợn. Tối mịt nàng về, nó dọn cơm sẵn, líu ríu khoe đủ chuyện ở nhà” (Người mẹ). Còn là cảnh những bữa ăn nghèo khó, tội nghiệp của những em học sinh ở ngôi trường tít trên đỉnh núi (Hạt cơm đau). Là cảnh “một nắng hai sương”, đội sương đêm lên rẫy, cả ngày phơi lưng cho nắng gió, sương đêm xuống mới về…

Đáng quý là từ những cảnh ấy, những con người lam lũ luôn lấp lánh niềm hy vọng đổi đời. Một chàng thanh niên nghèo đến mức không nuôi nổi một con lợn nhưng có suy nghĩ thật sáng sủa để người đọc tin vào ngày mai anh sẽ có cả đàn lợn (Nuôi lợn)…

Hình tượng rừng là một mã ký hiệu riêng trong văn xuôi Du An, trữ tình, thâm nghiêm, hùng vĩ, như ngôi nhà của con người. Được mô tả theo nguyên tắc “thân mật hóa”, rừng hiện ra với những hình ảnh thực chất nhất. Là chốn đi về, là nơi sinh ra, rừng là người thân, là những gì thiêng liêng nhất: “Mẹ sinh ở rừng, ăn rừng, ngủ rừng, không mang cái gì ra khỏi rừng. Không lấy cái gì ngoài rừng vào”. Khi nhắm mắt xuôi tay, rừng cũng đón người về miền xa thẳm: “Mẹ về với rừng; nhìn con dao thấy lạnh, nhìn túi lửa thấy nóng; người nóng lạnh thất thường” (Người rừng, rừng người).

Rừng có trong củ mài, củ sắn, trong thanh tre, thanh nứa; rừng tượng hình trong giấc mơ con người, thấp thoáng trong bóng nước bát canh rau rừng… Nhiều lắm. Nhưng nhiều nhất là gió rừng. Ai đã lên vùng cao biên giới Việt Lào, sống ở đó, mới hiểu câu: “Ruồi vàng, bọ chó, gió Tây Trang”.

Ruồi vàng đốt thì đau nhói. Bọ chó cắn thì nhức buốt. Vết cắn sưng tấy, đỏ mọng rồi rỉ dịch vàng… Gió Tây Trang - là thứ gió Lào rát rạt, khô nóng như rút cạn nước, làm cơ thể lúc nào cũng có cảm giác hoang hoải, mệt mỏi… Thổi qua cửa khẩu Tây Trang, luồng gió hoang dã tràn vào thung lũng Mường Thanh, hung hãn chạy dài cho đến mãi Mường Ẳng, Tuần Giáo. Gió reo phần phật trong mỗi trang văn: “Muốn đi tiếp, giật mình thấy phần phật. Gió rừng… Gió xoáy xoáy. Muốn xoay tròn, rồi lướt lướt theo đoàn người” (Ở nương).

image003.jpg -1
Bìa tiểu thuyết “Quãng đen, quãng trắng”, NXB Công an Nhân dân, 2024.

Ở nhiều truyện ngắn, Du An đưa người đọc trở với hôm qua: “Những lần hổ vồ trượt, khỉ ném đá, rắn mai phục màu lá cây...”. Cả những cảnh trăn quấn nguyên con hoẵng to; những đàn lợn rừng tràn vào phá rẫy… rất riêng của vùng rừng nguyên sinh. Nhưng xa lắm rồi, đã lặn sâu vào ký ức các cụ già rồi.

Còn hôm nay, hiện đại, đầy sự ngổn ngang: “Một ngày kia có tiếng nổ, khói đen. Không phải sấm, không phải cháy rừng. Người ta mở một con đường xuyên từ bản cũ, qua bản mới, qua rừng Tênh Hông, đi nữa, hình như đến chân trời”. Một sự thay đổi không biết nên vui hay nên buồn, chỉ biết rừng cứ dần biến mất, “ngôi nhà” của người cũng dần nhỏ bé, tiều tụy đi…

Hình tượng người chiến sĩ Công an chiếm một vị trí quan trọng trong văn xuôi Du An, với một đặc điểm riêng là luôn được “trồng” vào mảnh đất phong tục Tây Bắc. Trong “Quãng đen quãng trắng”, lời của Thủ trưởng Trung - đồn trưởng đồn Công an Sơn Sa, nói với Minh - người Công an trẻ, đã khái quát nhiệm vụ khó khăn, phức tạp của họ, không chỉ đấu tranh với bọn tội phạm, còn với cả bao hủ tục, với nghèo đói: “Ngô lúa và lá ngón, văn minh và hoang dại, luật pháp và luật rừng… nhiệm vụ của chúng ta còn lâu dài, gian khổ, phức tạp lắm chàng Trung úy ạ”.

Cùng với một số truyện, tiểu thuyết này cắt nghĩa nạn nghiện ma tuý đã có từ lâu, trước 1954, bị giặc Pháp lợi dụng như một chiêu bài thâm độc nhằm mục đích ngu dân để chúng dễ bề cai trị... Sống cùng dân, ở cùng dân, lo lắng, thương yêu cùng dân, vì sự yên bình của bản làng, các chiến sĩ Công an ngày đêm âm thầm, bền bỉ, đối mặt với hiểm nguy để ngăn chặn “cái chết trắng”. Tên tác phẩm là một ẩn dụ: “quãng đen” chỉ thời kỳ thuốc phiện (màu đen) hoành hành vùng cao Tây Bắc; “quãng trắng”, chỉ thời gian sau này heroin (màu trắng) thẩm lậu qua biên giới.

Vẫn đi theo mạch truyền thống, văn xuôi Du An giản dị, mộc mạc, thật thà như nương rẫy và người vùng núi cao. Như những tán rừng, nhìn từ xa có vẻ ngoài êm đềm nhưng đi sâu vào bên trong thì sục sôi những dòng thác, bạt ngàn những loài cây, xao xác âm thanh những loài thú… Không chỉ giàu có chi tiết, còn nhiều bất ngờ, khó đoán. Như trong “Quãng đen quãng trắng”, kẻ buôn heroin, không ngờ, lại chính là người trong bản, thân thiện, chăm chỉ, lam lũ…

Bạn đọc tìm đến những trang viết ấy để tìm thấy những nét “trữ tình” nhưng cũng là để chứng kiến cái dữ dội, có khi chỉ qua một cách dùng từ: “Sương oằn trĩu trên lá, rơi xuống lộp độp như mưa”. Hai chữ “oằn trĩu” công phu, tinh tế, rất thật với vùng núi đá, sương muối đặc quánh cứ như nắm lại được. Có xu hướng mở rộng biên độ vươn sang miền giễu nhại, tiếng cười trong văn xuôi Du An bật toát từ đời sống, tươi nguyên, bởi được chắt ra từ hiện thực, như một so sánh: “vác như vác gỗ chạy kiểm lâm” (Quãng đen quãng trắng).

Về bản chất, nghệ thuật là sự sáng tạo ra một “mô hình mới”, thoát thai từ đời sống thực, thống nhất nhưng không đồng nhất với hiện thực. Nhìn vào “cuộc sống thứ hai này”, tức tác phẩm, sẽ vừa thấy hiện thực được khúc xạ vừa thấy tài năng, tâm hồn người nghệ sĩ ánh xạ trong đó. Ngoài yêu cầu cao về phẩm chất giàu có óc tưởng tượng, liên tưởng, cùng hướng đi riêng, lối viết ấn tượng, văn xuôi đòi hỏi cao về vốn sống. “Muốn ướp được người, mình phải mặn trước”. Là người nhiều trải nghiệm sâu, đủ sự “mặn mà” miền núi cao, hy vọng Du An có thêm nhiều trang văn “ướp” vào bạn đọc hương vị nồng nàn, trong trẻo, mới lạ của miền đất phía Tây Bắc Tổ quốc.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).