Giai đoạn 1945 - 1975, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lực lượng Công an tham gia vào nhiều hoạt động như: bảo vệ Đảng, Nhà nước và hậu phương, trấn áp phản cách mạng, chống gián điệp, giữ gìn an ninh tại những địa bàn trọng yếu; đồng thời, phối hợp với lực lượng Quân đội thực hiện các nhiệm vụ cấp bách tại chiến trường... Và nổi lên trong giai đoạn này là nhà văn Lê Tri Kỷ - một trong những cây bút tiên phong đặt nền móng cho sự hình thành của văn học Công an nhân dân với hàng loạt tác phẩm liên tiếp gây được sự chú ý: “Thủ phạm vụ án Ôn Như Hầu” (ký sự, 1960), “Cây đa xanh” (truyện trinh sát, 1961), “Phố vắng” (truyện ký, 1965), “Một người không nổi tiếng” (truyện ký, 1970)... Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiều từng nhận định: “Chưa có nhà văn nào viết về ngành Công an được như ông, truyện của ông vừa gợi được sự sáng suốt trong lý trí, vừa tạo nên sự rung động đầy tính nhân văn của những trái tim thiết tha hướng thiện”.
Thứ trưởng Trần Quốc Tỏ và nhà văn Nguyễn Quang Thiều trao giải A cho các tác giả đoạt giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống”, ngày 11/11/2025.
Đến giai đoạn 1975 - 1986, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất nhưng phải đối mặt với những vết thương hậu chiến, đặt ra thêm nhiều nhiệm vụ mới cho lực lượng Công an, nhất là giải quyết các vấn đề mâu thuẫn phức tạp về an ninh, trật tự nảy sinh tại địa bàn cơ sở, phát động phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Tiếp nối nền móng ban đầu mà nhà văn Lê Tri Kỷ dày công tạo dựng, từ hiện thực ấy, đội ngũ tác giả viết về đề tài Công an xuất hiện với diện mạo rõ nét hơn, từng bước được quy tụ, cùng phấn đấu mở rộng dòng văn học này ngày càng chuyên nghiệp. Tiêu biểu phải kể đến: “Biến động ngày hè” (tiểu thuyết, 1976), “Những tiếng nói thầm” (tiểu thuyết, 1978), “Câu lạc bộ chính khách” (tiểu thuyết, 1976) của Lê Tri Kỷ; “Cuộc chiến đấu bảo vệ Đồng Văn” (ký, 1977), “FULRO -Tập đoàn tội phạm” (tiểu thuyết tư liệu, 1982) của Ngôn Vĩnh; “Đội Công an số 6” (truyện dài, 1981) của Văn Phan; “Trinh sát Hà Nội” (tiểu thuyết - 1984) của Tôn Ái Nhân...
Báo CAND phối hợp với Chi hội Nhà văn Công an tổ chức Trại sáng tác “Vì An ninh Tổ quốc, vì bình yên cuộc sống” (năm 2005).
Nhìn chung, văn học Công an thời kỳ này theo khuynh hướng ghi chép lịch sử, mang đậm cảm hứng ca ngợi chiến công, tập trung khắc họa hình tượng người chiến sĩ Công an mang đầy đủ những phẩm chất anh hùng, mưu trí, gan dạ, bản lĩnh, trung thành, dũng cảm, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm để thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao. Phương thức tổ chức tự sự thiên về lối kể chuyện lớp lang, tuyến tính theo trình tự diễn biến sự việc, đẩy mạnh kịch tính, cao trào, kết thúc bất ngờ, cụ thể, các tuyến nhân vật chính diện - phản diện được phân định rạch ròi, dễ nhận biết. Đó xu thế tất yếu phù hợp với bối cảnh lịch sử bấy giờ khi mà mỗi tác phẩm văn học không chỉ là một dấu ấn nghệ thuật mà còn góp phần không nhỏ phục vụ mục đích tuyên truyền nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào lực lượng Công an và phổ biến bài học cảnh giác, nêu cao tinh thần đấu tranh, tố giác tội phạm.
Kế thừa những thành tựu đã đạt được, đến giai đoạn 1986 - 2000, khi đất nước chuyển mình đổi mới sẵn sàng bước vào thiên niên kỷ mới, văn học Việt Nam hiện đại nói chung và văn học Công an nhân dân nói riêng đã mạnh dạn sàng lọc, có những cách tân đáng ghi nhận. Hình tượng người cán bộ, chiến sĩ Công an không chỉ được xây dựng bằng hành động, tính cách mà còn được ngòi bút của nhà văn đi sâu phân tích số phận trong chiến đấu và đời thường, những diễn biến nội tâm phức tạp, những giằng co tâm lý trong khoảnh khắc đấu trí với các loại tội phạm. Hàng loạt tiểu thuyết nặng ký được xuất bản là minh chứng rõ nét nhất cho nhận định này: “Những người săn bắt cướp” (1987) của Nguyễn Như Phong, “Giữa sa mạc lửa” (1987) của Nhị Hồ, “Đen vỏ đỏ lòng” (1987) của Mai Thanh Hải, “Ông cố vấn” (1988 - 1989) của Hữu Mai, “Đối mặt kẻ tử tù” (1992) của Đắc Trung, “Mùa hạ khó quên” (1993) của Nguyễn Thành Phong, “Một kiếp lênh đênh” (1993) của Thu Trang...
Đại tá Nguyễn Thị Thu Hằng, Phó Cục trưởng Cục Truyền thông CAND cùng các tác giả đoạt giải trong cuộc thi thơ “Xuân mới” 2026 của Chi hội Nhà văn Công an.
Đặc biệt, với ý tưởng sáng lập của nhà văn Hữu Ước, sự ra đời của giải thưởng Cây Bút Vàng (1996 - 1998) do Tạp chí Văn hóa - Văn nghệ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức có thể được xem là sân chơi chính thống đầu tiên của văn học Công an, thu hút sự tham gia của hàng loạt cây bút thành danh trên văn đàn như Ma Văn Kháng với “San Cha Chải” (giải Đặc biệt), Nguyễn Khải với “Đàn bà”, Nguyễn Quang Sáng với “Về lại bức tranh xưa” và Nguyễn Hồng Thái với “Đối mặt” cùng đoạt giải Nhất... Những truyện ngắn dày dặn, công phu, có sắc thái nghệ thuật riêng này đã mở ra góc nhìn sâu hơn về hình ảnh người chiến sĩ Công an được đặt giữa những “lát cắt” cuộc sống đầy trăn trở. Nhà văn Ma Văn Kháng tâm sự: “Tôi đã phải vận dụng gần như tất cả hiểu biết, kỷ niệm, ấn tượng tôi đã có trong nhiều năm dài sống ở miền núi, nghĩa là toàn bộ vốn sống có từng nào thì huy động ra bằng hết, chứ không dè sẻn, để viết truyện ngắn này”.
Để mở rộng biên độ về thể loại, sau khi giải thưởng Cây Bút Vàng tạo được tiếng vang lớn, Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc thi tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” luân phiên qua các đợt. Có thể nói rằng, đây là sân chơi góp công lớn nhất nâng tầm chất lượng văn học Công an từ năm 2000 đến nay. “Một thế giới không có đàn bà” của Bùi Anh Tấn đoạt giải A tiểu thuyết năm 2002 vẫn được giới phê bình quan tâm; “Đêm yên tĩnh” của Hữu Mai, “Yêu tinh” của Hồ Phương chứng minh vốn sống thâm trầm của những nhà văn lão luyện. Mùa giải lần thứ II (2007 - 2010) đã phát hiện nhiều cây bút trẻ triển vọng mà nhiều năm sau, họ thực sự trở thành những nhà văn có chỗ đứng trong lòng bạn đọc: Chu Thanh Hương với “Hoa bay” (tiểu thuyết, giải A), Nguyễn Xuân Thủy với “Sát thủ online” (tiểu thuyết, giải A), Nguyễn Đình Tú với “Phiên bản” (tiểu thuyết, giải B), Di Li với “Trại hoa đỏ” (tiểu thuyết, giải C)...
Đến thời điểm hiện tại, văn học Công an đã tự tin với vị trí vững vàng và bản sắc không thể trộn lẫn trong dòng chảy văn học đương đại. Từ những trang viết mang cảm hứng ngợi ca, những câu chuyện điều tra phá án đơn thuần đến những tác phẩm đa dạng về bút pháp nghệ thuật, cách thể nghiệm, xoáy sâu vào những bi kịch, xung đột xã hội, khám phá tường tận ký ức, soi tỏ những góc khuất tâm lý, gọi tên được những ranh giới mong manh của cảm xúc, văn học Công an lớn mạnh không ngừng. Đội ngũ sáng tác ngày càng được mở rộng, số lượng đi kèm với chất lượng. Từ thực tiễn công tác nghiệp vụ, những nhà văn mặc sắc phục xanh vẫn miệt mài “tay súng, tay bút”: Hữu Ước (tiểu thuyết “Suối Cọp”), Viễn Chi (tập ký “Hồi ức 10 năm”), Nguyễn Như Phong (tiểu thuyết “Cát bỏng”), Lại Văn Long (tiểu thuyết “Mật danh Đ9”), Dương Bình Nguyên (tiểu thuyết “Gió vẫn thổi qua miền nhiệt đới”), Đào Trung Hiếu (tiểu thuyết “Bão ngầm”), Chu Thanh Hương (tiểu thuyết “Phận liễu”), Kim Thị Mùa Đông (tiểu thuyết “Mật mã cuối cùng”)...
Các tác giả trong lực lượng Công an nhân dân tại Lễ tổng kết và trao giải cuộc thi thơ “Xuân mới” 2026.
Bên cạnh đó, các nhà văn ngoài ngành Công an như: Võ Thị Xuân Hà (truyện ngắn “Mặt trời ở lại”), Y Ban (truyện ngắn “Con đường qua bảy ngã tư”), Sương Nguyệt Minh (truyện ngắn “Lửa cháy trong rừng hoang”), Nguyễn Hiệp (truyện ngắn “Gió xước”), Nguyễn Trí (tiểu thuyết “Diều hâu”), Đoàn Hữu Nam (tiểu thuyết “Rễ người”), Phong Điệp (tiểu thuyết “Vực gió”), Nguyễn Thu Hằng (tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”), Tống Ngọc Hân (tiểu thuyết “Người lạ cùng huyết thống”), Tống Phước Bảo (truyện ký “Cỏ xanh đời thép”), Trần Quốc Cưỡng (truyện ký “Hiệp sĩ”), Lê Thị Kim Sơn (truyện ký “Ma Yang - Cổng trời bình yên”), Nguyễn Duy Liễm (truyện ký “Công an xã”), Lương Sỹ Cầm (truyện ký “Phá án bên Lào”)... đã góp những tư duy nghệ thuật độc lập, góc nhìn khách quan, mới mẻ, đặc sắc về đề tài này qua những trang viết hấp dẫn, để hình tượng người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân không chỉ hiện lên qua chiến công, thử thách mà còn được soi chiếu trong chiều kích nhân sinh sâu rộng, bật lên những giá trị nhân văn cốt lõi.
Trước sự nở rộ của tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện ký, bút ký, mảng thơ về Công an ít khi được nhắc đến, nhưng sự thành công của cuộc thi thơ “Xuân mới” do Chi hội Nhà văn Công an tổ chức đầu năm 2026 đã khiến giới mộ điệu phải đánh giá lại khả năng biểu đạt của thể loại này trong phạm vi đề tài bấy lâu nay được mặc định có tính tự sự hơn là trữ tình. Xuân mới, đúng như tên gọi của nó, đã mang về một luồng sinh khí vừa tươi trẻ vừa sâu lắng cho làng văn trong những ngày năm mới nhiều khát vọng. Nhiều thi phẩm đã đạt đến sự tròn trịa của cảm xúc và độ tinh của nghệ thuật, “chạm” vào trái tim độc giả như: “Xuân về Dào Sa” (Lý Hoàng Cung), “Ta như nguyên đán của nhau” (Nguyễn Hữu Quý), “Mũ kê - pi của bố” (Hoàng Anh Tuấn), “Rồi một ngày” (Hoàng Việt Hằng), “Áo ấm gọi xuân” (Hà Sương Thu), “Dốc ban trắng” (Du An), “Khi em làm vợ Công an” (Nguyễn Đức Lợi), “Rốn rừng” (Đào An Duyên), “Đi tuần trong đêm mùa xuân” (Nguyễn Thị Khánh Liên), “Khoảnh khắc” (Nguyễn Thị Bích Vượng)...
Trải qua 81 năm đồng hành cùng sự hình thành, phát triển của lực lượng Công an nhân dân, văn học Công an đã để lại được những dấu ấn đẹp, gắn liền với những thăng trầm, biến động của lịch sử dân tộc nói chung và thực tiễn công tác bảo đảm an ninh, trật tự nói riêng. Dẫu có những giai đoạn, nhiệm vụ sáng tác chưa bắt kịp sự vận động thời cuộc, còn hạn chế trong cách tiếp cận hiện thực đời sống, song dòng văn học này vẫn không ngừng nỗ lực khẳng định mình để một mặt tạo được vị trí riêng, một mặt không tách rời chủ lưu văn học chính thống. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của đất nước, tin rằng, văn học Công an sẽ tiếp tục kế thừa những thành tựu sẵn có, kết hợp với đổi mới tư duy nghệ thuật để tạo nên những tác phẩm thực sự xuất sắc, sống mãi với thời gian.