Văn Đắc yêu

Nhà thơ Văn Đắc sinh năm 1942 tại Sầm Sơn, Thanh Hóa. Như vậy, năm nay anh đã tròn trặn bước vào tuổi 80, vào cái tuổi thuộc lớp người "xưa nay hiếm". Xuất phát từ một nhà giáo, đến nay anh đã có trên mười tập thơ và nhiều giải thưởng cống hiến cho bạn đọc.

Thơ anh dù buồn hay vui, đọc xong vẫn thấy như làn mây không bọng nước mát lành vắt qua những trưa nắng tròn trặn. Đặc biệt khi anh viết về tình yêu, dù bất cứ ở tình huống hiển nhiên nào, khi đắm đuối cuồng nhiệt hay khi hờn ghen cô độc... ta vẫn thấy lấp lánh phía sau con chữ, trên những tán lá non phủ kín mặt hồ lấp ló những đóa súng đóa sen tinh khiết, ngọt lạnh sương đêm, cố gắng điểm tô cho không gian đa dạng quanh mình đang sống, những ánh nhìn non dại, đắm say. Hãy cùng anh thưởng thức thử bài thơ "ÁO TÍM" để thấy cái cách mà Văn Đắc bung biêng:

Văn Đắc yêu -0

Xa thì không xa
Mất thì không mất
Khuất thì chẳng khuất bóng cây
Em như lá ngửa bàn tay cuối mùa

Nói thật thì cũng thật
Nói đùa thì cũng đùa
Lòng vòng theo bong bóng mưa
Em như thuyền giấy buộc hờ vào tôi.

Rơi thì không rơi
Vỡ thì không vỡ
Phai thì lặng lẽ mà phai
Tím như áo tím phơi ngoài chiêm bao.

Có hai cảm giác khi đọc xong bài thơ này. Ở nghĩa cạn: Thứ nhất, nói áo tím mà cả bài chỉ một lần nhắc đến từ áo tím! Ấy vậy mà, cả không gian cứ loang tím một màu huyền thoại. Gần gũi, thân mật, ám vào bao tao nhân mặc khách biến họ thành ngơ ngẩn, ngẩn ngơ, thành cái sự "dở người" không thể không có trong vô vàn câu chuyện tình xưa nay của nhân loại.

Thứ hai, là cách yêu có vẻ hơi cổ điển, tồn tại ở thế kỷ trước - Cái thời thanh niên của Văn Đắc hơn là thời 4G, 5G ngày nay. Chậm rãi, xa vắng hơn; nhường nhịn, yếm thế hơn. Ngôn ngữ "nghĩ" lấn át ngôn ngữ "thở", mơ mộng mà kín đáo, bay lên che đi phần bản năng vốn dĩ vẫn là đích đến của tình yêu. Nó làm sống lại sự tinh tế, riêng tư hơn là lẫn lộn vào câu chuyện tình muôn thuở.

Ở nghĩa rộng: Màu tím là sự kết hợp hoàn hảo từ màu đỏ mạnh mẽ và màu xanh dương nhẹ nhàng, nó biểu tượng cho sự sang trọng, quyền quý. Không chỉ có vậy, màu tím cũng gắn liền với hình ảnh ma mị, những câu chuyện ma thuật đầy bí ẩn. Trong tình yêu màu tím thể hiện cho sự quyến rũ, nồng cháy. Đối với phụ nữ màu tím tượng trưng cho sự thủy chung, sắt son, màu của sự chờ đợi. Ẩn sâu trong màu sắc đó như một lời ước nguyện về sự thủy chung, bền vững, sóng gió vẫn bên nhau. Tuy nhiên, những người khi yêu cực kỳ nhạy cảm với màu tím. Họ rất dễ bị tổn thương trước sự thay đổi dù nhỏ nhất trong chuyện tình cảm của riêng mình. Văn Đắc khai thác vỉa quặng nhiều tầng của sắc thái ấy mà gợi mở lòng mình. Bài thơ hay cả về mặt cấu tứ lẫn cách mà ngôn ngữ thấy được giới hạn của mình, hay nói một cách khác ngôn ngữ thơ đã kích hoạt một vụ nổ cảm xúc với vô vàn các sóng xung kích:

Lòng vòng theo bong bóng mưa
Em như thuyền giấy buộc hờ vào tôi.

Đó là cách dân gian vẫn thường dùng, gọi là nói sẵng. Giận nhau, hờn nhau, vùng vằng nhau một tí, (là cơn ghen lên ấy mà):  Lời em như bong bóng mưa thôi nên dễ tan lắm. Tình em đối với anh như con thuyền giấy thôi - nhẹ lắm. Đã nhẹ rồi, còn buộc hờ nữa thì có gì cột chặt, gắn bó, nặng nợ nhau đâu - dễ trôi lắm, dễ xa nhau lắm. Yêu nhau, hờn nhau đến độ buột ra những lời nói sẵng, tôi đồ rằng tình yêu đã sâu sắc lắm rồi! Khó xa cách lắm rồi! Chọn ngôn ngữ để phơi sáng sắc màu, đẩy cảm xúc đến tới hạn thăng hoa, đó là cách mà Văn Đắc có được trong bài thơ này.

Ở một góc khuất khác của tình yêu, Văn Đắc viết về nỗi buồn, về sự cô đơn, trống vắng - vì một lý do nào đó không thuộc về em! Ông viết như không, mà buồn thăm thẳm! Một chút xót xa, một chút tự trách mình, một chút hờn giận... đó là một trong số hàng loạt những sắc tố tình cảm, là những dư vị không thể thiếu; là "muối", là "ớt"…  không thể không có của tình yêu. Cả bài thơ không đả động một từ buồn nào mà sao heo hắt thế, xa xôi thế, cô tẻ thế:

Vào tuổi ấy, cây vẫn còn lực lưỡng
Bầy chim đi làm tổ thật thà chưa
Gió rộn cả lên đùa giỡn
Lá già làm vẻ non tơ

Sẽ đến lúc mùa đông rụng hết
Ta như cây thưa thớt lá trong đời
Cánh chim xé đường đi xao xác
Em có chờ vun gốc mảnh trời rơi.

Ta nhận ra em nhìn nửa mắt sau vai
Con chim hót nửa chiều mây líu ríu
Nắng tắt và em ngoảnh mặt
Một mình ta đập vỡ tiếng ta cười.

            (Xa xôi buồn).

Có một điều đặc biệt làm tôi chú ý mỗi khi đọc thơ Văn Đắc là những câu cuối của mỗi khổ thơ, bài thơ, thường mở ra những điểm nhấn có tính khái quát. Biên độ của liên tưởng không nằm theo trục tĩnh nữa, mà có sự rung lắc, bung tỏa ra theo nhiều chiều kích, tựa hồ như có một sự va đập, một sự tán sắc của ánh sáng. Chỉ có rung cảm thật nhạy bén mới đủ năng lượng cảm nhận được hết sắc màu của nó. Bung mà chụm; bay bổng mà lắng sâu. Nó nói lên khả năng truyền tải của tư duy, khả năng tạo ra yếu tố bất ngờ của một người trải đời như Văn Đắc và vì thế có thể nói thơ Văn Đắc thường rất cô đặc về tứ.

Văn Đắc yêu -0
Bìa tập thơ “Thơ Văn Đắc”.

Khi Văn Đắc viết về vị ngọt của tình yêu, về sự ngờ nghệch, về bản năng, về một khả dĩ nào đó mà khi yêu cần có. Một sự ngây ngô, đần ngố; một sự thật giả, ỡm ờ... tất cả vẫn chộn rộn, nồng nàn, vẫn say đắm, cuồng nhiệt, không để thời gian làm già đi sự non nớt, xanh ngọt của tình yêu:

Nếu anh không mang tình yêu đến cho em
Thì em để tóc bạc
Em không ngồi một mình vuốt lá cỏ xanh

             (Nếu anh)

Hay:

Anh không có cách nào nuôi em như nuôi cá vàng
Chẳng lẽ vì thế, anh thành người bị sỉ nhục
Em không dám nằm trong lòng trai hóa ngọc
Thì anh đành cạn biển mặn riêng anh.

            (Vô đề)

Và đây nữa:

Nếu em không đến với anh
Thì anh đành hóa đá

Mặc cho biển ứa tràn
Trăng trên đầu ướt đẫm
Cát vỡ nát dưới chân

Nhưng không phải dễ đâu
Anh phải tập im lặng
Tập chết đi dần dần.

             (Hóa đá)

"Anh đành hóa đá, tập chết đi dần dần". Ai mà tin cơ chứ! - Chỉ có nụ hôn và ánh nhìn trìu mến may ra mới "hoảng sợ" thôi. Tôi đồ chắc chắn rằng Văn Đắc si thật và dày dạn lắm, nên mới dùng sách dọa hóa đá, dọa chết để nạt tình. Dọa mà để cho đối tượng biết mình dọa mới cao cơ; để mở cửa lòng người, tạo cớ cho tình yêu có cớ; để rồi quên đi những ngăn cách không cần thiết, cùng nắm tay, dắt nhau vào miền ấm nóng, mà hưởng lạc, mà khám phá mọi ngõ ngách rồ dại của tình yêu. Văn Đắc nghĩ vậy, yêu vậy, viết vậy!

Thích thật!… Chả thế mà anh rất thật thà:

Những người đàn ông thích làm trẻ
Hay thỏ thẻ và hay than thở
Đến tìm
Có thể vô tình
Trắng trong

Nhớ mong

(Gửi những người đàn bà)

Khi Văn Đắc viết về vợ ngoài sự yêu bay bổng mà tình yêu vốn có, còn có những đặc thù gấm vóc. Một tập hợp gien cho sự khác biệt, không lẫn lộn, để nó khác với cái khác. Nhiều bài thơ anh viết về một bông hoa, một sắc xuân nào đó nhưng đọc lên vẫn thấm đẫm gương mặt người vợ mà anh yêu quý dù rằng có thể anh không có ý thức như vậy:

Em ơi, mùa xuân
Biển biếc ngàn năm em cũng không ngờ
Cứ xanh thế để sóng làm con trẻ
Để ngọn gió về bờ em đậu ngủ
Mặt trời lên như quả chín cây buồm
Ngọn núi hóa măng non
Mái chùa thành búp lá
Miếng trầu vườn hai họ hẹn trao duyên

(Lại đến mùa xuân)

Nhưng khi cảm xúc hướng ào ạt về vợ thì mạch lạc, rạch ròi, có một sự khác biệt. Sự khác biệt đó cụ thể, không nhầm lẫn với các lứa đôi khác:

Khi anh đang mải nhìn cỏ may
Lả tay với gió
Thì tay em đang sàng gạo
Khi anh đang nhấp chén trà như nhấp mật ong
Thì em mồ hôi ướt hai đầu vú...

(Chấp nhận)

Cả khi không cần mượn "tây nói ta", mọi sự cũng ngăn nắp, rõ ràng:

Mơ màng lạc đến cõi thơ
Ngu ngơ thì đã ngu ngơ mất rồi
Ngẫm mình nhớ ngược mong xuôi
Chẳng nơi nào được như nơi em chờ
Lấy thơ làm của trong nhà
Buồn vui sướng khổ chia ra cùng người.

(Bài thơ tặng vợ)

Văn Đắc sống với tình yêu như vậy cả lúc còn trai trẻ lẫn đến tuổi đã bát tuần chẳng khác gì mấy. Thơ anh vời vợi. Đàn bà, con gái đọc thơ anh vời vợi. Tôi đọc, khám phá thơ anh như cách mà cỏ cây dâng mật:

Ai bảo em kể lể
Chuyện chúng mình yêu nhau
Để bao nhiêu loài cỏ
Nhớ em không bạc đầu.

Lê Quang Sinh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).