Vai áo của những ngày xanh

Trước ngày giỗ ông tôi, bà thường xem lại những kỉ vật từ chiến trường của ông để lại. Bà xem từng tấm huy chương rồi lần lượt xếp sắp lại cẩn thận. Bà dừng lại lâu nhất là chiếc áo. Chiếc áo xanh đã bạc, chiếc áo đã sờn đôi vai. Bất chợt nỗi nhớ ông dâng đầy trong mắt, môi bà run run, bà nhẹ nhàng ôm chiếc áo vào lòng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy thấm thía hơn giá trị của hòa bình.

Bà tôi thường xót xa khi thấy các cháu vứt những chiếc áo cũ xuống nền nhà vào ngày tiết trời nồm ẩm. Chúng tôi gọi là những chiếc áo cũ chứ thực ra có khi chỉ mặc được mấy lần. Tuổi trẻ là những năm tháng thích sống với hiện tại và mộng ước về tương lai nên hồi ấy anh em chúng tôi chỉ hiểu sơ sơ là tránh lãng phí chứ cũng chưa thể nghĩ được gì nhiều hơn. 

Mùa xuân năm ấy, làng tổ chức lễ hội, tôi và đám bạn đi rước kiệu. Lần đầu tiên ghé vai vào khiêng kiệu trong trang phục truyền thống. Hồi hộp, tự hào vì đã vào đội trai tráng của làng. Sắc màu, hương khói, tiếng trống chiêng khiến chiếc kiệu trở thành điểm nhấn đặc biệt nhất của lễ hội. 

Đang khiêng kiệu thong dong, bỗng đôi vai tôi cảm nhận rõ một lực nhún mạnh xuống rồi kiệu hơi quay tròn, đôi chân cứ theo quán tính, kiệu quay mỗi lúc một mạnh, rồi lại một lực ghì, tiếp đến là một lực đẩy, kiệu lao về phía trước như đang bay trên không. 

Cả đội phụ giá rước kiệu thánh tuy đã được tuyển chọn và tập luyện trước mà sau khi về nhà đôi vai vẫn đỏ ửng, nóng bừng. Vai áo bên trong xô lệch trông thấy. Hình như sự xô lệch ấy để đánh dấu sự đổi thay và để bắt đầu cùng gánh vác những giá trị của làng xã quê hương.

Một lần tới trường, tôi thấy có cậu bé được bố cho ngồi lên vai. Một tay cậu túm lấy tóc bố còn tay kia cầm quả bóng bay đầy thích thú. Tự nhiên tôi thấy da mình nổi gai ốc. Hóa ra, tuổi thơ của tôi cũng từng được bố cho đi chơi như thế kia, chỉ có điều hồi ấy tay tôi cầm chiếc tàu bay giấy. 

Đôi vai áo ấm êm ấy đã cho tôi thấy cả một khoảng không bao la hơn, trong lành hơn. Tôi cảm thấy mình như con diều biếc muốn bay cao, bay xa đến những vùng bát ngát mà bố tôi là sợi dây diều cứ thả dần cho tôi đi. Rồi hình ảnh những người mẹ bế vác con lên vai bằng tất cả sự vỗ về yêu thương như chính cơ thể của mình. Bao nhiêu nước mắt, nước mũi, bao nhiêu buồn vui đã thấm vào vai áo của mẹ khi chúng ta còn non nớt, yếu ớt. Đôi vai áo của bố mẹ đã chở che và nuôi dưỡng cho con cái bao nhiêu khát vọng đẹp tươi. 

Năm chúng tôi học lớp 11, nhà trường cử đi dự lễ tiễn tân binh lên đường nhập ngũ, chứng kiến cảnh các cô gái tựa vào vai các chàng trai, những giọt nước mắt nóng hổi rơi vào vai áo trong giây phút ấy mà tôi thấy nghẹn ngào chan chứa. Trong không khí ấy, tôi thấy Tổ quốc thật thiêng liêng. Chả biết từ bao giờ trên đất nước này tình yêu đôi lứa lại gắn bó máu thịt với tình yêu non sông gấm vóc đến như thế.

Trước ngày giỗ ông tôi, bà thường xem lại những kỉ vật từ chiến trường của ông để lại. Bà xem từng tấm huy chương rồi lần lượt xếp sắp lại cẩn thận. Bà dừng lại lâu nhất là chiếc áo. Chiếc áo xanh đã bạc, chiếc áo đã sờn đôi vai. Bất chợt nỗi nhớ ông dâng đầy trong mắt, môi bà run run, bà nhẹ nhàng ôm chiếc áo vào lòng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy thấm thía hơn giá trị của hòa bình. 

Chiếc áo sờn vai, có chỗ đã bạc rách kia như thể những vết thương chiến trường mà biết vá thế nào cho đủ? Vai áo của bao người chiến sĩ không chỉ khoác ba lô, súng ống, đạn dược mà còn khoác lên đó trách nhiệm cao cả với nguồn cội với nhân dân đồng bào và với bao người thân yêu. Bờ vai áo ấy cùng bao bờ vai áo khác đã chiến đấu anh dũng kiên cường với kẻ thù và rồi ngã xuống cho những bờ vai sau bớt nặng nhọc, bớt mướt mát mồ hôi. 

Suy cho cùng, đi chiến đấu bảo vệ đất nước cũng là bảo vệ quê hương, bảo vệ những người thân thương. Muôn người không có chung một niềm tin như thế thì sao có được hòa bình độc lập. Lịch sử dân tộc nào cũng phải đấu tranh bất khuất với những thứ đê hèn xấu xa mới tồn tại và phát triển được.

Cuộc sống hiện đại đôi khi làm chúng tôi nghĩ khác đi về cái câu “Hơn nhau tấm áo manh quần”. Tâm lí đám đông và câu chuyện sành điệu, đẳng cấp khiến chúng tôi như con thiêu thân lao vào đống lửa. Chúng tôi đâu đã hiểu được thời kì bà còn trẻ thì việc trồng dâu nuôi tằm, lấy tơ dệt vải rồi may áo đã trở thành những kỉ niệm không thể nào gian khổ hơn. Chỉ riêng khâu nuôi tằm đã phải “đứng ăn cơm”, vất vả sớm hôm bên nong tằm nong kén rồi, chứ chưa muốn nói đến biết bao công đoạn khác. 

Chúng tôi còn cười lăn cười bò ra khi nghe tới người bà trong câu chuyện vá quần Jean rách cho cháu khi cháu nghỉ hè về quê chơi. Chúng tôi chưa hiểu được tấm lòng của người bà dành cho cháu qua từng đường kim mũi chỉ. Dòng đời đôi khi như dòng sông, có những trầm tích văn hóa phải qua bao ghềnh thác thì phù sa mới lắng lại và bồi tụ. Tôi thấy điều này dường như đúng với mình khi tôi tham gia vào chiến dịch mùa hè xanh.

Đường đi lên Tây Bắc gian khổ với những khúc cua tay áo đến nôn nao xanh xao mặt mũi. Sinh viên năm thứ nhất lên với đồng bào vùng cao còn nhiều khó khăn. Mảnh đất và con người nơi đây đã cho tôi nhiều cảm nhận về những giá trị muôn màu. Những đôi vai vác cày bừa, dụng cụ lao động, đánh bắt rồi cũng chính đôi vai ấy vác về những bó mía, gùi về những lúa ngô khoai sắn cùng bao thành quả khác. Và vai áo của đồng bào cũng nhanh bạc hơn…

Mưa mùa hè lại chợt làm tôi nhớ về mưa mùa xuân, nhớ nhà, nhớ bà. Mấy năm nay, nhà ít nồm hơn vì có máy điều hòa, chúng tôi cũng đã biết trân quý hơn những thứ rất đỗi giản dị đời thường mà lại luôn chan chứa yêu thương như vai áo kia dù bạc màu mà nghĩa tình lại mãi đậm sâu.

Vũ Văn Cương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).