Tư tưởng thẩm mỹ: Chìa khóa cánh cửa nghệ thuật

Tư tưởng là nhận thức và khát vọng của con người, hiểu rộng hơn là thế giới quan, là một lập trường xã hội nhất định. Tư tưởng thể hiện ở các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, qua đó biểu thị một tâm trạng, một thái độ trước hiện tượng đời sống. Trước một hành vi cao thượng người ta thấy khâm phục, muốn noi theo; trước một sự việc tha hóa người ta thấy khinh bỉ, ghê tởm, muốn xa lánh…

Tư tưởng là thuộc tính của con người, vấn đề là tư tưởng nào, tiên tiến, hiện đại, đổi mới… hay ngược lại. Vì vận động theo quy luật của tình cảm nên văn học nghệ thuật càng phải cần đến tư tưởng để định hướng bạn đọc vươn lên, hướng về phía chân - thiện - mĩ. Hẳn nhiên đó phải là tư tưởng thẩm mĩ. Thẩm mĩ là cái đẹp, cái lý tưởng, nhưng phải đặc sắc, độc đáo, khác lạ.

Tư tưởng thẩm mĩ là sự nhận thức, là quan niệm riêng của người nghệ sĩ trước đời sống, mà thiếu nó thì tác phẩm sẽ nhạt nhẽo vì không có cái riêng, không có bản sắc. Đó là điểm nhìn nghệ thuật, là điểm tựa hình tượng, là nguyên tắc cắt nghĩa về thế giới nội dung cũng như hình thức. Tầm cỡ của nhà văn đồng nghĩa với tầm cỡ của tư tưởng.

Nhà văn nào cũng viết về cuộc sống và con người, nhưng nhà văn có tư tưởng tích cực, tiến bộ thì tác phẩm sẽ đậm tinh thần nhân văn, sâu nặng giá trị nhân bản, yêu thương, trân trọng, quý mến con người. Tục ngữ Việt có câu thật hay: “Người ta là hoa đất”. Hoa là tinh túy của đất trời, là vẻ đẹp của tạo hóa. Hoa luôn thơm ngát, ấm áp và thiêng liêng.

Hoa có sắc màu, trong trắng, quý phái và vương giả. Hoa còn là sứ giả của tình người đến với tình người, của lòng chân thành đến với những miền tâm linh thanh khiết. Thế nên trong tình yêu, hôn nhân, trên bàn thờ, trên giáo đường… không thể thiếu hoa. So sánh con người với hoa, hơn nữa, với “hoa đất” thì người Việt đã có một triết lý cực kỳ quý trọng con người, coi con người là giá trị hơn tất cả.

Hình ảnh cây đại thụ luôn là ẩn dụ thi vị để ca ngợi các nhà văn lớn.
Hình ảnh cây đại thụ luôn là ẩn dụ thi vị để ca ngợi các nhà văn lớn.

Càng là nhà văn lớn càng giàu có về tư tưởng. Không ngẫu nhiên ở nhiều ngôn ngữ đều lấy hình tượng cây đại thụ để chỉ các đại văn hào. Vì giống như cây đại thụ mạnh mẽ cắm sâu rễ vào mảnh đất truyền thống dân tộc và nhân loại, để hút dinh dưỡng văn hoá rồi vươn cao cành lá quang hợp ánh sáng lý tưởng tiên tiến nhất của thời đại.

Quả ngọt tư tưởng của các đại thụ luôn được nhiều người mong muốn thưởng thức. Nhưng để có tư tưởng thì không hề dễ dàng, phải sống cho đã đầy, phải thương yêu căm thù cho hết mực, phải đọc cho thật nhiều sách, phải thật sâu sắc văn hoá nước nhà, phải nhập vào nhiều nền văn hoá thế giới. Nhà thơ vĩ đại Đỗ Phủ từng nói, phải đọc vạn quyển sách thì khi hạ bút con chữ mới có “thần”.

Có lẽ nên hiểu câu của Nam Cao “Sống đã rồi hãy viết” là một cuộc tạo vốn và tích vốn, vốn ở đây cần được hiểu rộng rãi hơn, là vốn sống, vốn văn hoá, vốn tri thức, vốn tình cảm,… Với số ít người trẻ cứ chăm chăm hô to cái “tư tưởng” của mình trong “tác phẩm”, nhưng người đọc chẳng thấy tư tưởng đâu. Khổ thế. Vì họ ít vốn quá.

Nhân vật, hình tượng, chi tiết là cơ thể thì tư tưởng là máu. Ít máu thì nhân vật không sinh khí, dật dờ… Máu là tinh chất của cuộc sống, nhà văn phải đồng hoá và chuyển hoá cái tinh chất của cuộc đời vào trang sách.

Tư tưởng thẩm mĩ không biểu hiện riêng lẻ, độc lập mà luôn hòa tan vào hình tượng, chi tiết. Không phải cứ lớn tiếng nói yêu nói ghét là thể hiện được tình cảm, mà phải biểu hiện một cách tự nhiên, không lộ liễu, không tô vẽ qua hình tượng. Phải đọc kỹ, đọc sâu để hệ thống, chọn lọc để tìm ra các hằng số, các tín hiệu lặp lại, các hình ảnh, các biểu trưng đa nghĩa...

Tư tưởng biểu hiện chủ yếu và rõ nhất qua nhân vật. Người ta vẫn nói truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao là “bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người”, trong khi đó, sống trong xã hội cũ thì những người dân nghèo bị áp bức đều chịu chung bi kịch này. Thời đó là đàn ông thì ai cũng bị đánh thuế thân, thứ thuế đánh vào người đang sống, ai sống thì phải nộp thuế. Những anh Dậu, anh Pha, Chí Phèo… đều bị thế cả. Nên nói như trên là chưa nói được sâu sắc giá trị cơ bản của tác phẩm.

Mở đầu thiên truyện là hình ảnh Chí vừa đi vừa chửi, Chí chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha mẹ đứa nào đã đẻ ra Chí… Tức là Chí khát khao một sự đối thoại. Nhưng chẳng ai thèm đối thoại, vì tất cả đã coi Chí ở hàng thú vật. Thành ra chỉ có mấy con chó “chửi” nhau với Chí. Như vậy Nam Cao đã đi trước thời đại mà gián tiếp nêu ra tư tưởng lớn: bản chất con người là đối thoại; chỉ con người mới có thể đối thoại được với nhau…

Cả làng Vũ Đại không hiểu cái khát khao ở Chí muốn đối thoại bình đẳng để làm hòa với mọi người, không hiểu cái mầm lương thiện đang ấp ủ trong một hình hài thú vật… Cho nên bi kịch xót xa của Chí là bi kịch bị cự tuyệt quyền đối thoại, mà như thế có nghĩa là chết còn hơn sống… Chúng ta nhớ một truyện ngắn của M. Gorky kể về sự trừng phạt khủng khiếp nhất của bộ lạc nọ đối với một kẻ có tội là đuổi vào rừng, để kẻ đó phải trở về loài thú vật và chết trong lạc loài cô độc!

Tư tưởng còn biểu hiện qua cách miêu tả. Hoàng Cầm có câu thơ: “Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng” (Bên kia sông Đuống). Một hình ảnh cô gái quê chân chất, mộc mạc tưởng chẳng có gì mới mẻ, đặc sắc. Nhưng nhờ có một trái tim nóng bỏng yêu thương trân trọng con người nên đã giúp nhà thơ có một so sánh đắt, tinh tế, ví cái cười của những cô hàng xén kia như nắng mùa thu. Mà nắng thì luôn tỏa sáng, tỏa ấm. Nắng đem lại sức sống, hy vọng, niềm ham sống tới con người. Thế là những cô gái quê kia không còn là những con người bình thường nữa, dưới cái nhìn chiêm bái ngưỡng vọng của nhà thơ, họ đã trở thành cả một vũ trụ vĩ đại lớn lao nuôi dưỡng vạn vật sinh sôi nảy nở! 

Với quan niệm con người không chịu khuất phục cái bạo lực phi nhân tính, bởi ở con người luôn tiềm tàng một tâm hồn nghệ sỹ nên Tô Hoài đã để nhân vật Mỵ (Vợ chồng A Phủ) chỉ chịu bị trói về thân xác chứ không chịu trói buộc về tinh thần. Có bị trói chặt hơn thế nữa thì Mỵ vẫn cứ thả hồn theo tiếng sáo “lửng lơ bay” trong đêm tình mùa xuân. Tiếng sáo là cái hồn của tác phẩm, trở thành “máu” của nhân vật, mà giả sử cắt bỏ cái âm thanh vừa thực vừa ảo ấy đi thì nhân vật sẽ chết.

Logic của hình tượng là một quan hệ nhân quả, biện chứng nên dứt khoát nhân vật ấy phải tự cắt dây trói giải thoát cho đời mình. Không đơn thuần chỉ là cắt dây trói mà còn là cắt đi, là phá tan sự đè nén nô lệ đã hàng trăm năm của cường quyền, thần quyền và tục quyền mà chế độ phong kiến phản động miền núi đã trói buộc những cuộc đời khốn khổ như cô Mỵ.

Thì ra trong văn chương kỹ thuật rất quan trọng nhưng chỉ là thứ yếu, cái quyết định, cái chi phối kỹ thuật chính là tư tưởng, là quan niệm. Đó cũng là cái chìa khoá để người đọc bước vào thế giới nghệ thuật của nhà văn.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).