Tự trào Nguyễn Khuyến!

Nhìn vào thế giới mỹ học tiếng cười Việt Nam thì hầu như nhà trào phúng lớn nào cũng tự trào, lấy mình ra làm đối tượng để mà tự chế giễu, tự mỉa mai mình. Trong đó Nguyễn Khuyến "tự trào" nhiều nhất, cũng đa dạng sắc thái nhất, chiếm khoảng hơn 30% tổng số tác phẩm của ông.

Tiếng cười trẻ trung, lạc quan, trong sáng có từ thời trẻ và sau này là hóm hỉnh, tinh quái thấm đậm vào trong từng cái nhìn, từng ý, từng chữ.

Nhà thơ tự trào về tuổi tác thật dí dỏm, tươi tắn, tự nhiên: "Một năm một tuổi trời cho tớ/ Tuổi tớ trời cho tớ lại càng…" (Khai bút). Càng gì? câu thơ lửng lơ với nụ cười hóm. Tiếng cười tự trào phủ định chủ yếu cất lên từ giai đoạn Nguyễn Khuyến ra làm quan, nhất là sau khi về Yên Đổ. Tiếng cười tự tin, khẳng định đã yếu đi nhiều, thay vào đó là tiếng cười đầy trăn trở, xót xa, cười ra nước mắt, tiếng cười từ nghi ngờ đến phủ nhận, thậm chí nhạo báng chính mình. 

Có một giọng cười như ngang ngạnh, gàn dở, say mèm: "Ta cũng chẳng giàu, cũng chẳng sang/ Chẳng gầy, chẳng béo, chỉ làng nhàng/ Mở miệng nói ra gàn bát sách/ Mềm môi chén mãi tít cung thang..." (Tự trào). Một loạt những hình ảnh tự họa như rất xa lạ để làm hiện ra một con người bi kịch. Bi kịch muốn từ quan để giữ lấy sự trong sạch nhưng bị giằng xé với "ân vua", muốn phục vụ vua. 

Tranh minh họa cảnh uống rượu ở vườn Bùi!
Tranh minh họa cảnh uống rượu ở vườn Bùi!

Hệ quả của bi kịch này là có một tiếng cười ra nước mắt: "Ba phần tóc bạc càng thêm tủi/ Một tấm lòng son vẫn có thừa/ Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt/ Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe…". Có khi là tiếng khóc thật sự: "Ơn vua chưa chút báo đền/ Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời" (Di chúc). Cho nên giằng xé một mâu thuẫn: "Kẻ ở trên đời lo lắng cả/ Nghĩ ra ông sợ cái ông này" (Tự thuật). Mình lại sợ chính mình vì mình không còn là mình. Trong khi người đời lo lắng thì mình lại vô tâm, chẳng giúp gì đời, cũng chẳng làm gì hại đời. Thế nên có lúc thấy mình vô tích sự, là "người thừa". Đấy là tiền đề cho tiếng cười tự mình mỉa mai mình!

Không làm gì được cho dân, cho nước nên mới hổ đất thẹn trời. Tấm lòng ấy đáng được cảm thông, kính trọng. Khác với việc tự khẳng định mình trước đây, bây giờ Nguyễn Khuyến giễu cợt mình một cách chua chát. Mà xét kỹ phê phán, phủ định cũng chính là để khẳng định một chân lí nào đó. 

Ông châm biếm, đả phá cái giả Nho, cái vô dụng, chính là để khẳng định cái chân Nho, khẳng định những giá trị truyền thống của dân tộc, khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của riêng mình. Đấy là cách tự phản tỉnh trước thực tế các giá trị đạo đức đang bị sa sút nghiêm trọng. 

Nhà nho Nguyễn Khuyến đem "cái tôi" mình ra để tự chế giễu, tự chê trách cũng là cách trào phúng cả một tầng lớp đại diện nền học vấn đã hết thời. Danh vị tiến sĩ nay đã trở thành trò hề, trở thành thứ đồ chơi để "dứ thằng cu", mà mỗi lần nhìn thấy thứ hình nộm ông Tiến sĩ là đồ chơi của trẻ, Nguyễn Khuyến lại tự bỡn cợt: "Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ/ Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng" (Tự trào). 

Bề ngoài câu chữ là cười mình, tự dè bỉu, trách cứ mình bất tài vô dụng, nhưng nhìn sâu vào bên trong mới thấy đó là một bản lĩnh, một sự tự ý thức giá trị bản thân. Vì cười mình là để nhạo đời. Thế nên phủ định cũng là một cách khẳng định!

Bên trong con người Nguyễn Khuyến là sự khủng hoảng về lý tưởng của một bậc đại khoa đọc sách thánh hiền cùng cái tài học hăm hở giúp nước bỗng trở nên vô nghĩa, không đủ tài năng và bản lĩnh để ứng xử trong một tình thế hoàn toàn mới - một hoàn cảnh xã hội phong kiến nửa thực dân lố lăng. Tất yếu dẫn đến những bi kịch giằng xé. 

Bi kịch bị đẩy lên cao khi nhà thơ thất vọng sâu sắc trước một thực tế quá xa so với nhận thức giáo điều trước đó. Triều đình nhà Nguyễn hèn nhát, ký Hiệp ước hàng giặc Pháp. Ở chốn quan trường bao cảnh ngang tai trái mắt, vua không ra vua, tôi không ra tôi, xã hội biến động, đổi trắng thay đen, không đành lòng làm quan, ông quyết tâm rũ bỏ "bụi đời" trở về với Yên Đổ (1883). 

Thực sự đau đớn khi nhận thấy học vấn của mình không đem lại lợi ích gì cho nước nhà, ông theo con đường mà người xưa đã chọn - ở ẩn, tắm mình vào thiên nhiên, gửi hồn mình vào chốn làng quê. 

Nhưng sự day dứt "quân thần phụ tử" không thể dứt hẳn, vẫn phải trực tiếp hay gián tiếp chứng kiến sự đảo lộn ghê gớm ngoài xã hội... nên nhà trào phúng dùng tiếng cười, vừa để gửi gắm tâm trạng, vừa để cười mình, cười đời: "Sách vở ích gì cho buổi ấy/ Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già" (Ngày xuân dặn các con). 

Về ở ẩn rồi nhưng vẫn tự trách cứ mình: "Cờ đang dở cuộc không còn nước/ Bạc chửa thâu canh đã chạy làng" (Tự trào). Cười mình là kẻ "chạy làng" vô trách nhiệm trước thời cuộc cũng là tự giễu cợt sự bất lực của bản thân. 

Tiếng cười thêm chua xót, ngậm ngùi hơn. Có một sự chơi chữ thâm thúy: "Cờ đang dở cuộc không còn nước". Vì "không còn nước" tức ván cờ hết nước đi, cũng là chuyện mất nước nên vua cũng không còn thực nữa, chỉ là vua hề, chỉ là quan phường chèo thôi: "Vua chèo còn chẳng ra gì/ Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề"!

Hình tượng "ông phỗng đá" hay hình tượng chính con người nhà thơ đầy dằn vặt: "Người đâu tên họ là gì?/ Khéo thay chích chích chi chi nực cười/ Dang tay ngửa mặt lên trời/ Hay còn lo tính sự đời chi đây" (Hỏi phỗng đá). "Ông phỗng đá" đáng trách hay chính mình đáng trách, vì "tuy hai là một": "Cõi hóa cùng đi lại/ Không chừng bác cũng ta" (An ủi ông lão đá). Nhà thơ có hai bài "an ủi": Úy thạch lão nhân (An ủi ông lão đá) và Úy thế phiến (An ủi cái quạt đã bỏ), cũng là một cách tự mình an ủi mình mà thôi.

Câu cá mùa thu!
Câu cá mùa thu!

Đối thoại với "lão đá" cũng là đối thoại với chính mình, nhắc mình, khuyên mình, tự an ủi mình: "Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu/ Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác/ Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác/ Chén chú, chén anh, chén tôi chén bác/ Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu/ Nên chăng đá cũng gật đầu". Uống rượu với "lão đá" cũng là một kiểu "độc ẩm".

Nhà thơ lại tự giễu cái tật hay uống: "Những lúc say sưa cũng muốn chừa/ Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa/ Hay ưa nên nỗi chưa chừa được/ Chừa được nhưng ông vẫn chửa chừa" (Chừa rượu). 

Phép lặp từ, đảo trang diễn tả rất sinh động hình tượng một ông lão già như đang trong cơn say ngật ngưỡng, nghiêng ngả. Điều này chứng tỏ ông chỉ mượn rượu chứ không hám rượu, càng không phải say rượu. Rượu là phương tiện để trốn đời, lánh đời, đời đáng chán thì chưa muốn "chừa", vì có chừa được thì càng đáng buồn hơn!

Tiếng cười tự trào Nguyễn Khuyến có đặc điểm cái bi lấn át, trội hơn cái hài. Nhưng không hẳn buồn. Có không ít tiếng cười đùa vui, hóm hỉnh, ngộ nghĩnh, ví dụ bài Khuyên vợ cả: "Ta chẳng như ai lối nguyệt hoa/ Trước là ngẫm nghĩ nỗi gần xa/ Lấy năm thì cũng dành ngôi chính/ Dẫu bảy càng thêm vững việc nhà". 

Mỗi câu là một sự "trần tình", câu 1 khẳng định là con người đứng đắn. Câu 2 nêu nguyên nhân lấy nhiều vợ: phải lo xa. Câu 3: Có lấy đến 5 vợ thì vợ cả vẫn là "ngôi chính". Câu 4: Nếu có lấy 7 vợ thì việc nhà càng vững. 

Đây là bài "nịnh vợ cả" thì đúng hơn: có lấy thêm vợ cũng là vì "vợ cả"! Tiếng cười bật ra từ những mâu thuẫn: "Ta" không có tính "nguyệt hoa" nhưng có thể lấy đến…7 vợ! Cả bài là tiếng cười vui hóm từ sự "ngụy biện" cho việc có nhiều "thê thiếp".       

Nhà thơ tự cười cái thân hình mình đáng cười ngộ nghĩnh lôi thôi: "Ông gẫm thân ông nghĩ cũng hay/ Mái tóc chòm xanh chòm lốm đốm/ Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay/ Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ/ Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say..." (Than già). 

Với nguyên tắc "thô kệch hóa" và biệt tài dùng tính từ láy, chân dung một ông lão già dở tỉnh dở say, chống gậy cũng không vững nên xiêu vẹo (khấp khểnh) nhìn thì không rõ, phải đeo kính (nhập nhèm), móm miệng (răng rụng), tóc bị xơ rối (lốm đốm)… Đã thế "Đi đâu lủng củng cối cùng chày"!!!

Nguyễn Khuyến hài hước việc mình được "lên lão", được chiếm một manh chiếu giữa đình: "Ba vạn sáu nghìn ngày, cái thủ lợn nhìn thày đà nhẵn mặt/ một năm mười hai tháng, con mắt gà đeo kính đã mòn tai" (Cảnh về vườn). Ông hay nói đến rượu, tự giễu mình say làm cho nhiều người (có cả nhà nghiên cứu) nghĩ ông hám rượu. Câu thơ này nói thật về ông: "Túy ông ý chẳng say vì rượu/ Say vì đâu nước thẳm với non cao" (Uống rượu ở vườn Bùi). Không thể thay trời đổi đất, ông lấy tiếng cười lay thức mọi người. Vì thế tiếng cười này trở nên lớn lao hơn tiếng cười thông thường. Một tiếng cười yêu nước!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).