Từ một tập sách, nghĩ về một nhân cách văn hoá

Nhân đọc "Tạp văn", tái bản có bổ sung của GS-TS Đình Quang, NXB Sân khấu, 2012.

Nhận được cuốn sách mới của GS-TS Đình Quang gửi cho, tôi lại như gặp người quen cũ, vẫn cái bìa như cuốn in lần trước: nền bìa là mục lục tên bài; tên sách là tên thể loại, như một cô gái biết mình đẹp, chả cần điểm trang. Lời nhà xuất bản cũng chỉ vài dòng như chú thích: "Giáo sư, Tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Đình Quang là một nhà sư phạm nghệ thuật và đạo diễn thuộc thế hệ hàng đầu của sân khấu Việt Nam . Bộ Tuyển tập Đình Quang (gần 3.000 trang) nghiên cứu về sân khấu, văn học nghệ thuật và văn hóa, đã đem lại Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Tuy không phải nhà văn, nhưng ông cũng thường hay có những phút trải lòng với cuộc sống qua những truyện ngắn, bút ký, hồi ức và tạp cảm…đăng rải rác trên các báo và tạp chí".

Vậy là cuốn "Tạp văn" tái bản này như muốn nói: "Tôi chỉ tiếp tục câu chuyện năm trước thôi mà" (chỉ khác: tập trước 260 trang, tập này 372 trang).

Tôi gạt sang bên mấy cuốn sách mới mua hoặc được tặng, bìa bắt mắt, để đọc ông Đình Quang trước. Đình Quang là một trong số ít người có nhân cách văn hóa mà tôi yêu kính, để tiếp tục lời giới thiệu của tôi 3 năm trước (đã in trên Văn nghệ Công an), cũng là để ghi lại những ứng xử, cảm nghĩ văn hóa mà tôi học được ở ông cái phần làm người làm nền cho một đời làm nghệ thuật của ông. 

Đứng trước cảnh tượng lăng mộ Tần Thủy Hoàng với những quân binh, xa mã ngợp mắt bằng đất nung, chúng ta ai chẳng có nỗi xáo động về khái niệm thời gian và không gian,  cá nhân và lịch sử…nhưng đọc những suy nghĩ này của Đình Quang, ta như được định hình, định hướng lại những xáo động ấy: "Hình như tôi đang chạm phải nỗi ám ảnh dai dẳng của một con người trước sự sống và cái chết, chạm phải lòng tự giác rằng mình có thể vô biên về mặt không gian, nhưng lại hữu hạn về mặt thời gian. Tần Thủy Hoàng quả là có tầm cỡ lớn lao, và cũng từ đó, một sự tiếc nuối cũng lớn lao về cái tầm cỡ của mình. Chẳng thế mà chỉ nghĩ đến khi mình phải nằm xuống, không có người sống đi theo phủ phục thì y đã phải bắt cả ngàn tượng đất nung đứng chầu…" (Ghi bên khu mộ Tần Thủy Hoàng).

Từ sự nghiệp thống nhất Trung Hoa to lớn của vua Tần đến ý nghĩ thực tiễn đời thường về cái chết của một nhà văn Việt Nam như Nguyễn Tuân, bà vợ Nguyễn Tuân đã kể với Đình Quang: "Anh ấy có lần nói với tôi: "…Nếu tôi đi trước thì bà buồn nhưng không khổ, vì bà còn biết tự lo cơm cháo mà ăn. Còn nếu bà mà đi trước thì tôi không những buồn mà còn khổ nữa, vì tôi chẳng biết tự lo sống thế nào. Thôi thì có gì bà cho tôi đi trước nhé!...". GS Đình Quang kết thúc bài viết "Nâng chén rượu xuân…nhớ nhà văn Nguyễn Tuân" bằng nhận xét: "Vốn thích "xê dịch", anh Tuân đã có một chuyến đi đẹp đẽ qua cuộc đời này. Vả trước lúc ra đi vĩnh viễn anh đã không phải buồn và cũng không chịu khổ". Tôi nhớ lại câu trả lời người bạn đang hấp hối của giáo sư ở tập trước: Liệu có kiếp sau không nhỉ? "Kiếp sau của chúng ta ở trong "cõi nhớ" của mọi người, và Thiên đàng sẽ đón ta vào lúc lâm chung, khi ta mỉm cười vì một  đời đã không gây đau khổ cho ai!".

Câu nói đó đã thành một danh ngôn, ít ra đối với tôi. Nó vừa ứng với người đang theo đuổi một sự nghiệp, vừa hợp với những con người có lối sống hướng thiện, đệ tử của nhiều tôn giáo trên trái đất. 

Trong kháng chiến chống Pháp, đội ngũ văn nghệ sĩ tập hợp ở hai trung tâm: Việt Bắc và Liên khu 4. Ở Liên khu 4, thời điểm tướng Nguyễn Sơn làm tư lệnh, có hai đoàn nghệ thuật thì Đình Quang mới 21 tuổi đã làm trưởng một đoàn (nhạc sĩ Phạm Duy làm chính trị viên, kịch sĩ Bửu Tiến làm phó đoàn) vào phục vụ chiến trường Bình Trị Thiên "Trước khi chia tay hai đoàn, anh Chu Ngọc còn tranh thủ đạo diễn cho tôi vai Đội Mịch. Tác phong tỉ mỉ, lý giải sâu sắc của anh trong dàn diễn đã như một bài học vận dụng thực tế của những gì anh đã giảng cho chúng tôi trước đó" (Chu Ngọc từng hoạt động sân khấu nổi tiếng trước Cách mạng). Sau đó mỗi người một địa bàn, chỉ gần mười năm sau hai anh mới gặp nhau. Đình Quang thuộc lớp cán bộ trẻ được tập trung đào tạo: Sau chiến thắng Điện Biên, anh được cử sang Bắc Kinh, vào Trung ương Hí kịch học viện. Cuối năm 1959, tốt nghiệp về nước, anh được Bộ cử ra phụ trách lớp huấn luyện (8 tháng) cho hàng trăm cán bộ sân khấu toàn miền Bắc. Rồi anh được Bộ Văn hóa phân công đửng ra thành lập trường Đại học Sân và Điện ảnh Việt Nam mà anh là hiệu trưởng. Xây dựng khung cán bộ cho nhà trường, Đình Quang đứng trước vấn đề nan giải: Những bạn học cùng anh ở nước ngoài theo phương pháp mới thì chưa tốt nghiệp về nước, anh phải nhờ cậy các nghệ sĩ lớn tuổi, đàn anh của mình trước đây, tuy các anh không học trường lớp chính quy, nhưng những kinh nghiệm phong phú trên sàn diễn của các anh vẫn sử dụng được khi bổ sung những kiến thức mới. Anh xin Bộ mấy người, trong đó có anh Chu Ngọc, lúc này đang bị thành kiến và phải lao động ở Kiến An. Anh Chu Ngọc vui vì được trở lại môi trường nghệ thuật, giúp đứa "em út" của mình ngày trước. Quan hệ của 2 anh trở thành điển hình cho mối quan hệ lớp nghệ sĩ già giầu kinh nghiệm trên sàn diễn với những nghệ sĩ trẻ được tu nghiệp ở nước ngoài về. Mối quan hệ này càng tế nhị khi người học trò cũ của thầy Chu Ngọc trở thành thủ trưởng cơ quan, không chỉ ở vị trí lãnh đạo mà cả về kiến thức sân khấu hiện đại cũng nhiều điều có thể truyền thụ lại cho lớp nghệ sĩ già. Nhưng người khó khăn trong xử thế lại là Đình Quang, xử sự thế nào cho phải phép?

Buổi đầu gặp lại nhau, Đình Quang đưa anh Chu Ngọc xem toàn bộ tư liệu về chương trình đào tạo, kế hoạch học tập anh đã soạn trước. Sau vài ngày, Đình Quang mới dám hỏi xem anh định tham gia môn nào? Chu Ngọc rất khách quan và nhũn nhặn nói: "Phương pháp Stanislawski rất mới với mình. Mình là một đạo diễn tự phát và tài tử. Nhưng nhà trường là một lò đào tạo chính quy…Tốt nhất hãy để cho mình tìm hiểu một thời gian". Và trong khi chờ đợi, anh nhận phụ trách phòng giáo vụ để Đình Quang có thời gian tập trung vào giảng dạy nhiều hơn. Anh Chu Ngọc đã  mời được cho trường một đội ngũ giảng viên triết, mỹ, âm nhạc, hội họa chất lượng nhất lúc bấy giờ! Và những buổi Đình Quang lên lớp giảng về B.Brecht, về Stanilawski ở trường nhà hay các trường bạn mời, Chu Ngọc đều tự nguyện đến nghe chăm chú. Cả hai đều cư xử dè dặt với nhau trong mối quan hệ mới.                           

Chỉ đến khi có một cuộc họp mặt của lớp già (trong đó có GS Nguyễn Lương Ngọc, anh cả của Đình Quang) và Đình Quang cũng "được" tham dự như ngày xưa, anh mới rũ bỏ được sự băn khoăn về quan hệ hai người "Những lúc này tôi có cảm giác anh đối với tôi trong một mối quan hệ khác hẳn (lúc ở cơ quan). Ở trường, chúng tôi là những người cộng tác, tôi lại là thủ trưởng, tuy vẫn thân thiết nhưng vẫn có một cự ly nhất định. Còn ở đây, anh rõ là một người anh, anh xưng anh và gọi tôi là chú. Anh đã đối xử với tôi theo hai tư cách: tư cách của một người cộng sự và tư cách một người anh lớn. Anh có tuổi nhưng lại rất mới, có thể nói là hiện đại trong cách xử sự như thế! "    

Đình Quang kính phục thái độ ứng xử của ông Chu Ngọc, nhưng tôi lại thấy đó là kết quả ứng xử của cả hai bên. Nếu ngay từ buổi đầu, Đình Quang cậy mình như một thủ trưởng, phân công ngay một chức trách cụ thể gì đó cho Chu Ngọc thì đâu có được thái độ tự nguyện hợp tác như trên. Chu Ngọc được tôn trọng như một người cộng sự ngang tầm, được biết toàn bộ kế hoạch xây dựng trường và tự chọn khâu nào thích hợp nhất với ông.

Đình Quang ghi lại những trường hợp "đau đầu" trong quá trình hoạt động và những trường hợp khó xử trong các mối quan hệ, ông còn ghi lại và mô tả cả những phút giây mà ông cho là hạnh phúc (theo "16 phút giây hạnh phúc" của Kim Thánh Thán được Lâm Ngữ Đường nhắc tới). Đây là một trong 16 khoảnh khắc hạnh phúc đó: "Một hôm, có người bạn phương xa đã hàng chục năm không gặp, bỗng nhiên xuất hiện. Tôi mừng quá, đứng lên ôm chặt lấy anh, dù quần áo anh phủ đầy tuyết lạnh". Anh nói: "Trên đường đi công tác, được biết anh chị ở đây nên ghé vào thăm!" 

"Tôi vội gọi vợ ra chào, giới thiệu đây là một người bạn từ thuở hàn vi và bảo nàng đi chợ chuẩn bị cho một bữa thịnh soạn, đừng quên kiếm một chai rượu ngon để mừng cho cuộc hội ngộ này. Vợ tôi vui vẻ xách rổ ra đi…Thế là bao nhiêu chuyện xảy ra những năm chúng tôi xa nhau được bạn kể lại líu ríu, thao thao bất tuyệt. Bỗng, tôi như không nghe được gì nữa, vì sực nhớ mấy bữa qua nhà đang cạn tiền, đã phải rau dưa qua ngày. Không biết rồi vợ tôi sẽ phải xoay trở ra sao? Tôi cứ nhìn ra cửa, thấp thỏm. Nửa tiếng sau thì vợ tôi cũng về. Vật đầu tiên tôi vội nhìn là chiếc rổ trên tay nàng: chiếc rổ đầy ắp rau và thịt thà, ló đầu lên, lại có cả một chai rượu Mao đài nữa. Tôi vừa mừng vừa ngơ ngác, nhìn kỹ vợ tôi từ đầu đến chân. Thì ra chiểc trâm cài đầu mà mẹ vợ tôi cho khi con gái về nhà chồng đã không còn nữa. Ôi! Đó chẳng phải là một phút giây hạnh phúc đó sao?".

GS Đình Quang cũng có những phút giây hạnh phúc vì bạn, vì người kiểu đó. Đọc đoạn văn này tôi bất giác liên tưởng tới chị Mỹ Hạnh vợ ông, người chơi cello trong dàn nhạc Giao hưởng cùng bộ phận đàn dây với tôi, thời chúng tôi cỏn rất trẻ. Hồi ấy, nếu được kể cô gái nào trong dàn nhạc có phong thái Hà Nội nhất, quý phái nhất, tôi nghĩ ngay đến chị!

Ở đầu bài viết, tôi đã dùng chữ nhân cách văn hóa để nói về một số người tôi quý trọng. Bởi nhiều người có nhân cách nhưng chưa đủ tầm để gọi như vậy! Nhưng một "nhà văn hóa" thì lại không thể…thiếu nhân cách!

"Tạp văn" của Đình Quang có giọng văn trong sáng, uyển chuyển, chân tình với người đọc, thành thực với bản thân, đọc ông, tôi như được nghe một người thân tâm sự với mình!

Vân Long

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).