Từ Miche đến Trạng Bùng

Phùng Khắc Khoan (còn gọi là Trạng Bùng) làm quan thời Lê Trung Hưng, còn Miche (tức Jean - Claude Miche) là một nhà truyền giáo người Pháp. Hai người này không liên quan gì đến nhau vì họ sống ở hai giai đoạn khác nhau, dù giám mục Miche từng truyền giáo ở địa phận phía Tây Đàng Trong. Điểm "gặp nhau" giữa hai con người này là tên của họ, vào mỗi giai đoạn khác nhau, được đặt cho một con đường ở Sài Gòn xưa, TP Hồ Chí Minh ngày nay.

Người xưa...

Con đường một chiều ở Quận 1, TP Hồ Chí Minh chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dài chỉ 600m, bắt đầu từ đường Nguyễn Thị Minh Khai cho tới Điện Biên Phủ, cắt các đường Trần Cao Vân, Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Văn Thủ. Con đường này rất đẹp, và có nhiều điều thú vị xung quanh nó…

Phùng Khắc Khoan (1528-1613) là người có văn tài kiêm thông cả thuật số, nhưng không đi thi và cũng không ra làm quan với triều nhà Mạc.

20-2.jpg -1
Đường Phùng Khắc Khoan (Quận 1, TP Hồ Chí Minh) trước 1975.

Tới năm 1557, Phùng Khắc Khoan đỗ đầu khoa thi Hương ở Yên Định (Thanh Hóa) và được cử giữ chức Ký lục, phụ trách việc ghi chép hành vi đạo đức của các quan võ. Năm 1595, được thăng làm Công bộ Tả thị lang, tương đương với chức Thứ trưởng Bộ Tư pháp và Tòa án tối cao ngày nay. Ông nổi tiếng có tài ứng đối với sứ Tàu và cũng là ông tổ của nghề dệt the (the làng Bùng, nên mới có tên Trạng Bùng). Ông mất năm 1613, được truy tặng chức Thái phó, đứng thứ nhì trong hàng Tam công gồm Thái sư, Thái phó và Thái bảo ở thời phong kiến.

Jean-Claude Miche (1805-1873) có tên Việt Nam là Mịch, là đại diện tông tòa thứ hai của địa phận Tây Đàng Trong năm 1847, nay là khu vực TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận xuống tới Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau. Năm 1850, ông đã có hai chuyến đi ngược sông Mê Kông nhằm truyền đạo cho người dân Khmer ở hai bên bờ sông.

Do đã có quá trình truyền giáo ở Nam kỳ và thông thạo tiếng Việt nên năm 1865, khi quay lại nhận nhiệm sở tại Sài Gòn, ông đã được binh lính Pháp… bắn đại bác để chào mừng! Ông mất năm 1873 và được chôn cất gần mộ của Pierre Pigneau de Behaine (còn gọi là Bá Đa Lộc) ở khu Lăng Cha Cả, nay là bùng binh giao nhau của các đường Cộng Hòa, Hoàng Văn Thụ, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Sỹ, Bùi Thị Xuân ở Quận Tân Bình.

Jean-Claude Miche cũng là người có công trong việc phổ biến và khuyến khích người dân thời đó… trồng cây mãng cầu xiêm, một giống cây ăn trái có gốc gác ở tận châu Mỹ xa xôi.

...Và con đường dưới hàng me vô đối

Năm 1877, Toàn quyền Nam kỳ là đô đốc Dupré cho lập con đường này mang tên Rue (đường) Miche, tới năm 1955 đổi thành Phùng Khắc Khoan và giữ tên ấy đến giờ. Đây là điều khá thú vị vì trải qua nhiều thăng trầm ở đất Sài Gòn, ít con đường chỉ có đúng 1 lần đổi tên như vậy. Nó nối đường Chasseloup - Laubat (trước 1975 là đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) với đường Legrand de la Liraye (trước là đường Phan Thanh Giản, nay là đường Điện Biên Phủ) đổ ra ngay vách của nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (nay là công viên Lê Văn Tám).

Đến đầu năm 1892, người ta định mở con đường này tới đại lộ Norodom (nay là đường Lê Duẩn) nhưng đã không được thực hiện, rồi tới năm 1907-1908 lại được các chủ đất ven sông tính kéo dài đường thêm lần nữa. Hội đồng thành phố khi ấy chấp nhận phương án này nhưng lại ra điều kiện: số tiền 10.800 đồng cần dùng để xây dựng lại trường nghề, bức tường và hàng rào cho các công trình quân sự sẽ do bên muốn mở đường phải đóng. Do không ai chấp nhận điều kiện ấy nên phương án này lại bị bãi bỏ.

Đây là đường có nhiều cây me nhất thành phố. Hai hàng me cổ thụ rậm rạp từ đầu đến cuối đường luôn tạo không gian mát mẻ quanh năm. Người lại qua nhìn lên thường thấy trái me lúc lỉu trên đầu. Tôi nhớ hồi nhỏ ở quê đã được uống rượu me, thực ra đó là nước từ trái me được lột vỏ, bỏ hột ngâm trong nước muối pha chút nước đường mà nhiều nhà đã dùng để làm món đãi khách trong ngày Tết. Húp nước me tuy không làm cho mình say như say rượu nhưng mấy chục năm rồi nó vẫn lâng lâng!

Bánh mì Miche và tư dinh đại sứ

Con đường này có nhiều biệt thự. Bên số chẵn, nổi tiếng lâu nhất là căn số 6. Dân Sài Gòn ngày trước nhiều người không biết và cũng chẳng cần phải biết cái ông Miche được đặt tên đường này là ai, nhưng họ vẫn thường hay nhắc đến Miche, nhắc về... lò bánh mì Miche.

Xin nói thêm một chút, "miche" và "baguette" đều là những thuật ngữ chỉ những ổ bánh mì Pháp được làm từ nhiều loại bột khác nhau và có hình dạng khác nhau, với "miche" là ổ tròn, lớn và "baguette" là ổ bánh dài, mỏng. Ổ bánh mì "miche" thường làm bằng bột nhào có chứa ngũ cốc, còn bánh mì "baguette" thì được làm với bột mì, men, muối và nước. "Baguette" từ tiếng Pháp có nghĩa là "dùi cui", trong khi "miche" là một thuật ngữ để chỉ ổ bánh mì nói chung. Điều trùng hợp thú vị là "bánh mì Miche" vừa là thuật ngữ "miche" (ở trong bánh mì), cũng vừa trùng khớp với tên của ông Miche.

Trở lại căn biệt thự số 6, ngày ấy dù không treo bảng hiệu nhưng là một lò bánh mì sản xuất quy mô lớn với kỹ thuật cao. Bánh mì ở lò này cung cấp hằng ngày cho Bệnh viện Grall (quân y viện của Pháp, nay là Bệnh viện Nhi Đồng 2), cho các tiệm cơm Tây và người mua lẻ. Bánh mì Miche mua về có thể để 3 ngày ăn vẫn mềm, vẫn thơm, vẫn ngọt. Cả sau khi đường này đổi tên, chẳng ai chịu kêu "bánh mì Phùng Khắc Khoan" cả, mà cứ một mực gọi "bánh mì Miche" thôi. Bây giờ thì lò bánh mì Miche không còn nữa, thay vào đó là tòa nhà mấy tầng đồ sộ hiện được Fosco (Công ty dịch vụ cơ quan nước ngoài) cho các công ty thuê làm văn phòng làm việc.

Gần cuối đường có căn số 38, bây giờ là nhà riêng của Tổng Lãnh sự Liên bang Nga tại TP Hồ Chí Minh. Một thời nó từng là dinh thự của các đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, ông Cabot Lodge ở đây giai đoạn 1963-1964 và ông Graham Martin ở từ 1973-1975. Trước đó, căn nhà này là nơi ở của tướng Hòa Hảo "Năm Lửa" Trần Văn Soái - vào những năm cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950. Cũng vì bảo đảm an ninh cho dinh thự này nên đường này từ đoạn Tự Đức (nay là đường Nguyễn Văn Thủ) đến vị trí tiếp giáp nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (ngã ba Phan Thanh Giản trước đây) có thời điểm trước 1975 đã bị cấm lưu thông.

20-1.jpg -0
Jean-Claude Miche (1805-1873) nhà truyền giáo, giám mục người Pháp.

Bên số lẻ ngày trước là các villa dành cho các viên chức và các chủ hãng người Pháp. Căn villa số 25 từng là cơ ngơi của ông chủ hãng Compagnie Francaise des Tramways de l'Indochine (CFTI) - Công ty đường sắt Đông Dương, chủ đầu tư đường xe điện ở đường Dưới (nay là đường Võ Văn Kiệt) mà dân chúng thường gọi là "đường xe lửa mé sông", chạy từ đường Nguyễn Huệ dọc rạch Bến Nghé xuống Bình Tây.

Nổi tiếng hơn có lẽ phải kể đến căn villa số 23, từng là nhà của ông cố vấn chính quyền Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Nhu. Em trai ông Diệm đã mua lại căn này của bà Da Cruz, nhũ danh Marie Louse Ida Peux vào năm 1957. Căn biệt thự có kiến trúc khá đẹp này hiện đang treo bảng cho thuê, và cũng thuộc Fosco quản lý.

Còn biệt thự số 45, trước 1975 là Tòa đại sứ Tân Tây Lan (New Zealand), nay là Tổng lãnh sự Cộng hòa Cuba. Bên trong không biết thế nào, chứ phía mặt tiền sau mấy chục năm không hề thay đổi gì, từ cổng chính, cổng phụ cho tới mái hiên hình chữ "V" cách điệu, vẫn y chang ngày trước, kể cả "bót" của lính gác, vẫn nằm vị trí đó!

Vào những thập niên 1940-1950 và đến tận bây giờ, con đường này luôn được mệnh danh là "con đường lãnh sự". Các quốc gia như Campuchia, Cuba, Indonesia, Kuwait, Nam Phi đều đặt tòa Tổng lãnh sự của nước mình trên con đường này. Tổng lãnh sự quán Liên bang Nga trước cũng nằm trên đường này, trước khi chuyển về đường Bà Huyện Thanh Quan như hiện nay.

Vĩ thanh

Từ nơi tôi ngồi làm việc mỗi ngày, bước ra balcon là có thể "nhìn" thấy bao nhiêu dấu ấn lịch sử, nó quá gần, gần đến nỗi đôi khi tôi nghĩ như mới qua nay thôi, dù những chi tiết đề cập ở trên, cũng non nửa thế kỷ rồi. Ngày nào cũng đi lại trên còn đường ấy, tôi hay ai đó chắc cũng có ít nhiều duyên nợ với nơi đây, sẽ luôn dành thời gian để ngắm nhìn và tìm kiếm những chi tiết nào đó mà mình chưa biết về con đường này.

Sai Gòn - TP Hồ Chí Minh luôn có đủ cả những góc ồn ào và yên ả. Cả sự phức tạp và sự đơn giản cùng dồn nén vào trong một nơi như thế, bao ngày tháng qua…

Lê Hồng Minh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).