Nghĩ về văn mạch trữ tình trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà

Từ "Lúa hát" đến "Cành phong hương"

"Thể loại chọn nhà văn", ai đó nói chí lí. Và đúng từ suy nghiệm nghề nghiệp của tôi. “Cành phong hương” (NXb Hội Nhà văn, 2014) là tập truyện ngắn thứ 14 của Võ Thị Xuân Hà. Chị có viết hai cuốn tiểu thuyết "Tường thành" và "Trong nước giá lạnh". Nhưng công bằng mà nói, theo tôi, dẫu thuộc loại đọc được nhưng hai cuốn tiểu thuyết không nói được sở trường mà chỉ là sở đoản của nhà văn...

Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà cố kết được ba văn mạch chính: trữ tình - hiện thực nghiêm nhặt - triết luận. Ngay từ năm 1993 Võ Thị Xuân Hà gây ấn tượng với độc giả bằng truyện "Đàn sẻ ri bay ngang rừng". Một truyện ngắn viết táo bạo, có người nói quá lên là bạo liệt, xuất hiện trong thời điểm ấy kể cũng là một hiện tượng văn chương đáng chú ý. Những tưởng Võ Thị Xuân Hà đi trước một nhịp và sẽ trung thành với văn mạch được khơi nguồn từ "Đàn sẻ ri bay ngang rừng" với một cảm quan đầy tính hiện thực nghiêm nhặt, lối viết sắc lẻm và gay cấn, quyết liệt đến tận cùng. Nhưng, theo tôi, Võ Thị Xuân Hà ngay từ đầu đã thể hiện là một ngòi bút biến ảo, người có khả năng khai thông, cố kết cùng lúc những văn mạch khác nhau trong sáng tác truyện ngắn.

Có thể nói, "Lúa hát" khởi đầu văn mạch trữ tình trong sáng tác truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà. Ra mắt độc giả tập truyện ngắn đầu tay "Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào" (1992), nhưng để thêm một ấn tượng thực sự đủ đầy về một Võ Thị Xuân Hà đắm đuối trong văn chương trong lòng độc giả, nếu có thể nói, phải bắt đầu từ truyện ngắn "Lúa hát" (1994). "Lúa hát" là một truyện ngắn xinh xắn, đầy nữ tính, làm vỡ òa ra và phát lộ một Võ Thị Xuân Hà tinh tế, uyển chuyển và biến ảo trong cách phát hiện những "vỉa chìm" của đời sống. Độc giả tri nhận sức sống của kiểu truyện ngắn trữ tình, hay gọi cách khác là truyện ngắn giàu chất thơ, được chạy tiếp sức bởi Võ Thị Xuân Hà. Câu chuyện được kể cực kì đơn giản: một chuyến đi nhờ xe của một phụ nữ nông thôn quanh năm chân lấm tay bùn lên thành phố mua muối về bón cho lúa. Anh lái xe và người phụ nữ nông thôn đi mua muối là hai cá thể vốn trước đó hoàn toàn xa lạ nhau. Phút chốc, trong cái khoảnh khắc hiếm có của đời người sau khi họ chia tay nhau, người phụ nữ nông thôn bỗng nhận ra bao điều lấp lánh của giá trị sống qua cái kỉ vật mà người lái xe tặng - chiếc bật lửa: "Cô không còn nhớ đến người lái xe sáng nay, chẳng cần biết anh trôi dạt phương nào. Anh không phải là cuộc đời của cô. Nhưng có một điều mà cô sẽ luôn luôn phải nhớ đến, đó là sự có mặt của chiếc bật lửa. Sớm trưa chiều tối, ngọn lửa từ sợi bấc nhỏ xíu sẽ hiện diện trong nếp nhà hai vợ chồng trẻ cùng đứa con trai của họ. /Nhưng cả cánh đồng lúa của họ, cả bầu trời và đức Phật từ bi của họ, và cả họ nữa, sẽ chẳng bao giờ biết rằng có một mối tình đã tan vỡ".

Câu kết của truyện ngắn để lại nhiều dư vị, dư âm và liên tưởng. Một câu hỏi gieo vào tâm trí độc giả: Mối tình nào vậy? Vì sao nó tan vỡ. Ai sẽ là người đau khổ nhất? Không ai biết cả, trừ nhà văn, phải thế chăng?! Nếu thậm xưng thì có thể nói "Lúa hát" là kiểu văn xuôi "có cánh" trở nên rất hiếm hoi trong không khí sáng tác văn chương hôm nay.

Văn mạch trữ tình khởi từ "Lúa hát" có sức sống trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà hai mươi năm qua. Đến "Cành phong hương" - văn mạch trữ tình được "nâng cấp", bổ sung thêm tính chất triết luận về đời sống. Đọc Võ Thị Xuân Hà thời điểm hiện tại thấy cái chất trữ tình suy tư về kiếp người rất rõ. Nếu như ở "Lúa hát" tác giả chú ý đến những khoảnh khắc độc sáng, làm phát lộ rực rỡ cái Đẹp trong đời người thì ở "Cành phong hương" chú ý đến chu trình nhân quả của kiếp người trong cõi nhân sinh khi được sống bình thường đã là một hạnh phúc, đã là một đặc ân của Tạo hóa. Mặc dù tín điều của nhà văn là không lay chuyển "Tôi mãi là một người biết tin vào cái Đẹp", nhưng niềm tin bây giờ không còn run rẩy, non tơ và tươi xanh như trong "Lúa hát", mà dày dặn, trải nghiệm sâu xa hơn. Cũng vì thế đắng đót hơn, góc cạnh hơn. Nếu trước đây ngòi bút Võ Thị Xuân Hà lay động độc giả khiến họ yêu hơn cái Đẹp thì bây giờ khiến họ tin hơn vào cái Đẹp. Cuộc sống trong "Cành phong hương" "đa sự", con người thì "đa đoan" hơn bất kì lúc nào. "Cành phong hương" là truyện được dùng đặt tên cho cả tập với một không gian nghệ thuật đặc trưng - miền sơn cước. Riêng tôi thấy khi nào Võ Thị Xuân Hà chuyển dịch ngòi bút của mình về những không gian ngoài đô thị, ngoài những khối bê tông, lồng kính, chật chội và ồn ào, bụi bặm, lúc đó chị viết có vẻ như thoát hơn, bay hơn, mê đắm hơn. Trong truyện này hiện lên "một mùa thu duyên dáng đến ngọt lịm", trong truyện này có loài cây phong hương "mềm mại trong gió, dẻo dai trong gió, và kiên cường với gió".

Tiếp xúc với Võ Thị Xuân Hà nhiều năm, đến bây giờ đọc "Cành phong hương", tôi cứ hình dung nữ nhà văn xinh đẹp và tài hoa này là một cây phong hương vậy! Nhờ "Cành phong hương" mà truyện của Võ Thị Xuân Hà vỡ òa ra một ngoại cảnh xa mà gần, ảo mà thực (nhìn chung đa số các nhà văn bây giờ thường "nhốt" nhân vật của mình trong những không gian bé tí, tù túng). Nhờ ngoại cảnh mà nhân vật được "phóng thích" và hành xử khoáng đạt hơn. Đã lâu tôi mới đọc được những câu văn đẹp đến nao lòng "Những cây phong hương vào mùa thu lá ngả màu đỏ tươi, rồi dần chuyển sang màu huyết dụ. Đi từ xa tới lữ khách sẽ nhìn thấy trong thấp thoáng xóm núi những cây phong hương rực một màu đỏ, như báo hiệu sự chín đẫm của mùa thu. Trong gió ngàn của hương rừng gió núi, phong hương lặng lẽ khiêm nhường tô thắm vẻ đẹp miền sơn cước". Truyện được kết bằng câu văn rất đỗi mơ hồ "Nụ cười sơn cước phảng phất trên môi nàng…". Những kết truyện của Võ Thị Xuân Hà trong văn mạch trữ tình thường như thế - phiêu diêu, siêu thoát và gợi liên tưởng.

Nhân vật nữ của Võ Thị Xuân Hà, trong bản tính là những "ngọn lửa dịu dàng" (tên một truyện trong tập). Không phải vô cớ mà ông bố chồng nói với con dâu "Con là ngọn lửa dịu dàng của căn nhà này", còn bà mẹ chồng dẫu khó tính đến đâu cuối cùng cũng phải công nhận "Nhưng thực sự nó là nàng dâu quý của gia tộc ta". Dường như người nữ trong truyện của Võ Thị Xuân Hà thường cố gắng để trở thành người phụ nữ tuyệt vời trong mắt người khác. Phải chăng "dịu dàng" và "hiền thục" muôn đời vẫn là những phẩm tính hàng đầu của nữ giới? Nhân vật nữ của Võ Thị Xuân Hà thừa thông minh, tài hoa. Họ đáng khâm phục, nhưng họ đáng yêu lại vì dịu dàng và hiền thục. Những người nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà có cái khả năng "giữ lửa", vì thế trên từng câu chữ, trong từng cảnh ngộ và tình huống toát lên cái hơi ấm của tình đời, tình người. Nhân vật nữ của Võ Thị Xuân Hà dư dật cái năng lượng đặc biệt - "hòa khí"- có khả năng điều hòa những đối cực âm - dương, biết cách thuần hóa những nỗi đau của mình và người. Một nàng dâu không quản ngại gian khổ dồn sức chăm sóc bố chồng những ngày cuối đời ông "Mỗi khi tôi lật người để lau rửa cho ông, ông thường rỉ ra những giọt nước mắt đau đớn (…). Tôi nắn bàn tay ông, nhẹ như xoa một cành cây khô sắp rụng: cha yên tâm, con không thiệt thòi đâu. Chúng con yêu nhau mà (…). Tôi lắc lắc cánh tay ông: cha thấy con có già quá so với chồng con không?". Câu cuối của cô con dâu có cái gì đó thật kiềm chế để không bật ra một tiếng thở dài khi biết thời gian đang sầm sập mang tuổi già đến với mình trong khi chồng còn đang xuân xanh. Cái giọng này tôi cứ hình dung như thể Võ Thị Xuân Hà rút ruột mình ra mà viết chứ không phải là trí tưởng tượng thuần túy của nhà văn mách bảo.

Tôi thích cái giọng thiết tha, đắm đuối với đời, với người của Võ Thị Xuân Hà (tôi thấy lúc nào đó chị có ý định "đay nghiến" ai hoặc điều gì tự nhiên thấy câu chữ lập tức văng khỏi ngòi bút). Giọng này có lẽ sát hợp với văn mạch trữ tình. Chị thường viết những câu văn thật hồn nhiên, đọc xong là ấn tượng ngay. Văn mạch trữ tình Võ Thị Xuân Hà rất giàu ấn tượng thị giác. Nhờ ấn tượng này mà câu văn trở nên sống động, sinh sắc như "đập vào mắt" độc giả khi nhà văn miêu tả các tư thế của nhân vật, nhất là nhân vật nữ. Một lối văn nhiều màu sắc ắt hẳn chủ sở hữu nó phải là một người luôn tươi tắn, không chỉ ở ánh mắt, nụ cười, mà là sự tươi tắn tự trong tâm hồn. Nói một cách văn vẻ thì những màu sắc của tự nhiên rất có thể là ánh phản của những sắc màu tâm hồn người sáng tạo.

Đọc "Cành phong hương" theo cách "nhấm nháp", chợt thấy cái nhã thú văn chương được phục hiện trên những trang văn đẹp. Và lại thấy văn mạch trữ tình vẫn thao thiết chảy trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà. Riêng tôi tin rằng, chính nhờ văn mạch này mà độc giả luôn nhớ tới và yêu mến một cây bút nữ viết truyện ngắn có phong cách và thành tựu văn chương trên văn đàn đương đại Việt Nam.

    Hà Nội, tháng 8/2014

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).