“Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” - tiểu thuyết đoạt giải văn xuôi năm 2023 của nhà văn Nguyễn Một

“Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” là một tiểu thuyết chiến tranh. Nguyễn Một đã kiến thiết sự “viết chiến tranh” của mình chủ yếu dựa trên cái trục là cuộc chạy trốn của nhân vật chính, một chàng trai mới lớn người xứ Quảng tên Sơn, Trần Viết Sơn. Để trốn phải đi lính, từ quê hương Quảng Nam, Sơn đã chạy đến Thủ Biên, thị xã ven đô Sài Gòn.

Từ Thủ Biên, Sơn chạy tiếp vào Tây Ninh. Từ Tây Ninh, Sơn quay trở lại Thủ Biên rồi chạy đến Sài Gòn và kết thúc cuộc chạy trốn đúng lúc chính quyền Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ.

Chính từ việc dựng lên cái lịch sử trốn lính kéo dài vài năm với đầy những vòng vo này, Nguyễn Một đã tạo được một “viết chiến tranh” rất riêng và ít thấy ở các nhà văn khác: ông nỗ lực để nhân vật chính không can dự chiến tranh, và từ cái tình thế không can dự nhưng vẫn bị chiến tranh làm cho khốc hại của chàng trai Trần Viết Sơn, nhà văn đã bộc lộ những hình dung ngổn ngang và sự suy ngẫm nhức nhối của mình về cuộc chiến. Hoặc có thể nói, ông cố gắng tìm kiếm những đáp án cho một câu hỏi: chiến tranh là gì?

nv.png -0
Nhà văn Nguyễn Một và tác phẩm mới đoạt giải “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”.

Chiến tranh là tàn sát, là hủy diệt cuộc sống ở mọi cấp độ. Từ cuộc sống bình yên của các làng mạc, các gia đình đến sự sống ở trên đời của mỗi cá nhân; từ tình yêu đầy thơ mộng của những lứa đôi đầu xanh tuổi trẻ đến ước mơ tươi sáng về những con đường phía trước của một lớp người lớn lên trong thời chiến, tất cả đều bị chiến tranh chém phập xuống, đứt lìa, hoặc cho nổ tung, vỡ vụn.

Mỗi lòng người một lý lẽ bất an/ Mỗi cái chết có một hình thức khác...”, thi sĩ miền Nam Nguyễn Tất Nhiên từng viết những câu thơ như vậy. Nhưng trong tiểu thuyết của Nguyễn Một thì tuyệt đại đa số các cái chết đều chỉ có một hình thức, đó là chết vì bom đạn. Bom đạn trong các trận đánh. Pháo rớt và đạn bay, gây nên những cái chết bất thình lình của dân thường. Duy nhất ''chết sung sướng'' ở tiểu thuyết này có lẽ chỉ có một người, được nhắc tới khi hồi ức xa xôi dội về, đó là cái chết của ông tú Mại, cụ tổ họ Trần Viết của Sơn: chết gục trên chiếu xóc đĩa ngay khi vừa thua tiếng bạc mất trắng cả ruộng vườn lẫn cô vợ bé xinh đẹp.

Sự sống của tình yêu tuổi trẻ trong chiến tranh cũng mong manh chẳng kém gì mạng người trước bom đạn. Mối tình học trò của Sơn và Diễm - bản thân hai cái tên này đã làm thành liên văn bản với một văn bản “kinh điển” của văn hóa xã hội miền Nam suốt những năm 1960, đầu những năm 1970: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với tình khúc mê đắm trong “Diễm tuyệt hư ảo của những ngày xưa” bất hủ - là như thế. Những tình nhân ấy đã yêu nhau đắm đuối mà không ngờ rằng: “Mỗi đắm đuối chứa một mầm gian ác/ Mỗi đời tình có một thú chia tay...” (thơ Nguyễn Tất Nhiên). Những tình nhân ấy đã không có được nhau trọn vẹn, và những gì mà rốt cuộc họ có được với nhau thì đều phải trả giá bằng một tuổi trẻ đầy nước mắt, bằng những quăng quật bầm dập với đời, bằng những cú đòn chí mạng mà chiến tranh và những dư chấn quá nặng nề của nó giáng xuống trên thân thể và trong tâm hồn họ.

Với mối tình của Sơn và Diễm, dường như Nguyễn Một đã dựng lên bằng toàn bộ sức mạnh của phẩm tính lãng mạn trong mình. Ông ướp đôi tình nhân trong những làn gió mát của sông Đồng Nai, trong tiếng chuông và tiếng kinh cầu của ngôi nhà thờ cổ, và nhất là trong hương hoa bưởi nồng nàn mà thanh khiết của đất Thủ Biên. Chính cái mùi hương ấy đã lưu giữ những ký ức đẹp đẽ trong Sơn, để về sau này, trước khi tiểu thuyết khép lại, nó trở nên hóa thiêng với anh. “Sự hóa thiêng của nỗi buồn sương khói”, hay là sự thanh lọc tâm hồn sau bao mất mát, bao biến động mà chiến tranh đã tạo trên đời người.

Chiến tranh là vô lý, vô nghĩa và đầy những lọc lừa, dối trá. Trong chiến tranh Việt Nam, tuy không nhiều, nhưng cũng không quá hiếm những trường hợp mà cha con hoặc anh em trong một gia đình mỗi người lại cầm súng chiến đấu cho một bên.

Ở tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một, nó ứng ngay vào gia đình Sơn: bốn anh trai của anh, thì hai người theo cộng sản, hai người theo cộng hòa. Và dù về bản chất chỉ là những người nông dân ngẫu nhiên bị cuốn vào sự đối kháng chứ không phải theo tự do lựa chọn của lý trí, bốn người họ cũng đã nã đạn vào nhau trong một trận đánh lúc nửa đêm.

Điều kỳ lạ là cái kết cục bi thảm vô nghĩa, cái ngày tàn nghiệt ấy đã được người cha của họ, ông Ruộng, dự đoán ngay từ khi bốn đứa con rẽ theo hai phe đối địch. Chính vì thế mà ông ra lệnh, và đã sắp xếp để Sơn, thằng út, bằng mọi giá phải chạy trốn, có chết cũng không cầm súng. Một lịch sử trốn lính được bắt đầu như thế.

Nhân vật ông Ruộng, có thể nói, là hiện thể cho nhận thức của Nguyễn Một về sự tỉnh táo, trải đời của người nông dân, nhất là người nông dân xứ Quảng, cái mảnh đất mà bên này bên kia cứ ngày đêm cài vào nhau như răng lược. Cũng trong tiểu thuyết này, với một nhân vật gốc nông dân xứ Quảng khác - ông Trần Văn Duy, thiếu tá tiếp vụ của quân lực Việt Nam cộng hòa, anh em kết nghĩa của ông Ruộng - cái tinh thần cứng cỏi ấy còn trở nên thẳng tuột đến phũ phàng. Ấy là khi ông Duy phủ nhận lý tưởng “chiến đấu cho miền Nam Việt Nam tự do” của Tâm, con trai ông.

Sau này, khi nhà văn mượn lời nhân vật Hùng Hippie kể với Sơn: ông Duy vốn làm giàu bằng việc lợi dụng chức vụ để tuồn hàng viện trợ của Mỹ bán cho “những người ở trong rừng”, thì cái quan điểm “chiến tranh là gian trá” mà ông nói ra miệng ấy, vô tình đã tạo thành liên văn bản với một mảng rất rộng các quan điểm tương tự trong văn chương thế giới. Ví như văn hào Pháp Anatole France, với kết luận thản nhiên: “Chiến tranh là một cú áp-phe lớn”. Hay nhà văn Mỹ Joseph Heller, với nhân vật gã sĩ quan hậu cần Milo trong tiểu thuyết “Bẫy 22” nổi tiếng, kẻ chuyên chỉ đạo những chuyến buôn liên lục địa bằng đội máy bay chiến đấu, kẻ sẵn sàng ném bom quân mình và làm ăn với quân địch, miễn là có lời.

Bình luận về tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một, nhiều người cho rằng ông đã từ bỏ lối viết hiện thực huyền ảo - như từng thể hiện ở hai tiểu thuyết “Đất trời vần vũ” và “Ngược mặt trời” trước đó - để viết một tác phẩm hoàn toàn hiện thực, trần trụi hiện thực. Tuy nhiên từ “Đất trời vần vũ” và “Ngược mặt trời” đến “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”, có một yếu tố mà Nguyễn Một luôn kiên định, thậm chí nhấn mạnh như một niềm tin xác quyết, đó là khả năng nhìn thấu và xoa dịu những nỗi đau con người của tư tưởng Thiên Chúa giáo.

Có thể nói, tư tưởng Thiên Chúa giáo đã thấm ở phần lõi của cuốn tiểu thuyết chiến tranh buồn này. Nó đọng lại ở nhiều hình ảnh, nhiều phát ngôn, mà sâu sắc nhất, có lẽ là lời than trách mang chức năng cắt nghĩa đến nguyên thủy chiến tranh của nhân vật bà xơ/ dì Thục Hạnh: “Con người chúng ta đã đuổi Chúa ra khỏi cuộc đời. Chúng ta đọc báo hàng ngày, nhưng mấy ai đọc Kinh Thánh. Chúng ta nghe lời những nhà chính trị mà vì tham vọng đẩy mọi người vào cuộc chiến, chứ mấy ai nghe lời Chúa: “Hãy yêu người như yêu mình ta vậy”, chúng ta đòi hỏi phải để chúng ta tự quyết về cuộc đời của mình như con cái đòi rời bỏ cha mẹ, nhưng khi gặp khổ đau thì gào lên trách cha mắng mẹ”.

Không gian chiến tranh trong tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” nằm trọn ở Nam phần của đất nước thời kỳ còn chia cắt hai miền. Trong không gian chiến tranh ấy, Nguyễn Một đã nỗ lực tái hiện và tái kiến tạo diện mạo đời sống xã hội một thời. Ngoài bom đạn, chết chóc, ly tán, trốn chạy, trong không gian chiến tranh ấy, nhà văn vẫn chừa chỗ, rất rộng, cho thơ và nhạc của hai mươi năm văn nghệ miền Nam Việt Nam, như một sự quy chiếu liên văn bản giàu tính thẩm mỹ.

Rải suốt tác phẩm là những trích dẫn thơ của Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn..., những ca từ trong nhạc của Trịnh Công Sơn, Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nhật Ngân, Đinh Miên Vũ... Tất cả vang lên, khi thì như sự tương hỗ, có lúc lại như tiếng đồng vọng với hoàn cảnh hoặc nỗi niềm của con người thời chiến. Hoặc, từ một phía khác, có thể xem đó như phần nhạc nền đầy ấn tượng của “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”, một tiểu thuyết chiến tranh xuất sắc của văn chương Việt Nam trong khoảng hai mươi lăm năm đầu thế kỷ XXI.

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).