Tôi đến trước Hồ Gươm
Cơn giông chiều xô nắng
Lớp lớp thăng trầm tan
Chợt rùa vàng đội sóngXa xưa đấy - nổi chìm
Sau lưng ồn ào phố
Đi ra giữa cơn giông
Gặp chiều bay tung tỏaHồ thu sóng cùng tôi
Đất trời xua gió dậy
Sao bấy rùa vàng ơi
Điều chi không yên vậy?Điều chi không yên vậy?
Cơn giông sắp lặn rồi
Hồ như dần tĩnh lại
Ghế đá đôi - mình tôiQua sóng gió đầy vơi
Biết lòng không trôi dạt
Trong lặng im đáy trời
Hồ Gươm xanh chóng mặt.
Qua lại Hồ Gươm có thể nói hàng ngày, từng tận mắt chứng kiến cảnh Tháp Rùa được tu bổ, quét vôi, đôi lần giữa chừng trời nổi cơn giông, thi thoảng cũng bắt gặp cảnh cụ rùa vàng ngoi lên gần mép nước, thú thật, tôi thấy trong lòng mình với tác giả bài thơ trên có nhiều điều gần gũi. Thì, vẫn giữ một thái độ ghi nhận "Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây/ Đây lắng hồn núi sông ngàn năm" (như lời mở đầu bài hát "Người Hà Nội" của Nguyễn Đình Thi), Vũ Xuân Hoát đối mặt với Hồ Gươm (Tôi đến trước Hồ Gươm) l à đã có tư thế của người muốn đối mặt cùng lịch sử. Anh nhìn cái lấp lánh xao động của nước hồ như thấy "Lớp lớp thăng trầm tan", hình ảnh rùa vàng nổi lên như hiện thân của "xa xưa" truyền thuyết: Xa xưa đấy - nổi chìm, và cứ thế, trước cảnh: "Hồ thu sóng cùng tôi/ Đất trời xua gió dậy", trong anh trở đi trở lại bao câu hỏi, day dứt, lo lắng cho tiền đồ dân tộc:
Sao bấy rùa vàng ơi
Điều chi không yên vậy?
Và:
Điều chi không yên vậy?
Cơn giông sắp lặn rồi
Cơn giông sắp lặn rồi mà "triết gia" của thời đại vẫn im lặng chưa thấy trả lời. Trong lịch sử dân tộc, biểu tượng rùa có vị trí nổi bật, rất quan trọng. Người ta chú ý nhiều đến hai lần rùa vàng xuất hiện, ấy là lần thần Kim Quy hiện lên báo cho An Dương Vương biết kẻ mắc trọng tội đang ngồi sau lưng nhà vua, và lần rùa vàng nổi lên dâng vua Lê Lợi bảo kiếm đánh đuổi giặc Minh. Cả hai lần đều vào thời điểm thế nước gian nguy. Bởi thế, mỗi lần rùa vàng ngấp nghé trên mặt nước, là lập tức "sau lưng ồn ào phố", dày đặc người đứng nhìn. Người ta thi nhau phỏng đoán hiện tượng đó báo hiệu điềm gì, nói lên điều gì. Riêng vấn đề này, tác giả đành buông lửng, không lí giải được, vì câu hỏi lần thứ hai cất lên, thì rùa đã lặn mất, thay vào trên cái mặt nước "như dần tĩnh lại" ấy là một bóng hình đơn lẻ: "Ghế đá đôi mình tôi". Cũng từ đây, tác giả bắt đầu chuyển sang suy xét qui luật vận động của trời đất bằng cách lắng nghe chính bản thân mình: "Qua sóng gió đầy vơi/ Biết lòng không trôi dạt/ Trong lặng im đáy trời/ Hồ Gươm xanh chóng mặt". "Xanh chóng mặt" vì dám nhìn vào tận đáy lịch sử (Nguyễn Duy thấy “trăng im phăng phắc” còn giật mình nữa là...). Còn "Thấy lòng không trôi dạt" là bởi sau giông tố như vậy, tưởng tất cả đã tung tỏa theo chiều, tác giả vẫn tìm thấy bóng mình trầm tĩnh in trên mặt nước hồ.
"Cơn giông Hồ Gươm" là bài thơ mở đầu, và cái tên nó đã được lấy làm tên tập thơ Vũ Xuân Hoát xuất bản năm 1988 (từng được giải thưởng Văn học Thủ đô 1986 - 1990). Ở tập thơ nói trên, như một thành viên trong Ban giám khảo đã nhận xét, ưu điểm của Vũ Xuân Hoát thể hiện trên phương diện câu hơn là phương diện bài. Tuy nhiên, anh cũng có những bài tôi cho rằng tương đối hoàn chỉnh mà "Cơn giông Hồ Gươm" dĩ nhiên là một bài hoàn chỉnh hơn cả