Sinh trưởng trong một gia đình nông dân khá giả ở tỉnh Vĩnh Long, Phạm Văn Thiện (tên khai sinh của đồng chí Phạm Hùng) được cha mẹ chăm lo việc học hành từ nhỏ. Vĩnh Long là vùng đất trù phú ở châu thổ Cửu Long, người dân tính cách phóng khoáng, giàu lòng yêu nước. Vào thế kỉ XVIII, nhân dân Vĩnh Long đã có nhiều đóng góp với phong trào Tây Sơn, điển hình là trận Rạch Gầm - Xoài Mút khiến quân xâm lược Xiêm kinh hồn bạt vía. Trong thế kỉ XIX và những năm đầu thế kỉ XX, người dân Vĩnh Long liên tục hưởng ứng các phong trào cứu nước do các sĩ phu lãnh đạo nhằm cứu dân tộc khỏi họa xâm lăng…
Lớn lên trong bầu không khí ấy, cậu bé Phạm Văn Thiện đã thấu hiểu nỗi nhục mất nước, cảm thông với những người dân sống kiếp trâu ngựa, lầm than. Năm 1927, Phạm Văn Thiện được cấp học bổng của chính quyền thực dân, vào học Trường Trung học Mỹ Tho. Chương trình do người Pháp dạy và quản lí, học bằng tiếng Pháp, nhằm đào tạo đội ngũ quan chức người Pháp và người bản xứ phục vụ nền cai trị của "nước Mẹ Đại Pháp". Tuy nhiên, với chí hướng và hoài bão của một thanh niên yêu nước, Phạm Văn Thiện đã sớm trở thành thành viên tích cực của tổ chức Nam kỳ học sinh Liên hiệp hội và Thanh niên Cộng sản đoàn. Tháng 4/1930, Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Mỹ Tho được tổ chức; Phạm Văn Thiện được kết nạp vào Đảng Cộng sản và trở thành Bí thư chi bộ đầu tiên ở Trường Trung học Mỹ Tho. Trên cương vị này, người cộng sản trẻ tuổi Phạm Văn Thiện đã cùng những người đồng chí ra sức phát triển tổ chức, tuyên truyền những tư tưởng yêu nước, vận động học sinh đoàn kết, sẵn sàng xả thân vì dân tộc, vì Tổ quốc.
Do những hoạt động yêu nước, chống thực dân Pháp, tháng 10/1930, Phạm Văn Thiện bị đuổi học, bị xóa tên trong danh sách học sinh Trường Trung học Mỹ Tho. Từ đây, người thanh niên yêu nước Phạm Văn Thiện bắt đầu chặng đường mới đầy hy sinh gian khổ để cứu nước, cứu dân. Giữa năm 1931, khi đang là Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, Phạm Văn Thiện (bí danh Phạm Hùng) bị mật thám bắt. Dù phải chịu những trận tra tấn tàn bạo như thời trung cổ nhưng đồng chí Phạm Hùng vẫn giữ vững chí khí của người cộng sản kiên trung.
Tháng 9/1932, phiên tòa đại hình của chế độ thực dân tại Mỹ Tho đã kết án tử hình đồng chí Phạm Hùng. Ông bị đưa về Khám Lớn Sài Gòn chờ ngày lên máy chém. Do phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đòi ân xá tù chính trị, chính quyền Pháp ở Đông Dương buộc phải xóa án tử hình, hạ xuống khổ sai chung thân và đưa đồng chí Phạm Hùng cùng một số tù chính trị ra giam cầm tại Côn Đảo.
Đồng chí Phạm Hùng cùng lãnh đạo Bộ Công an đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Công an Hà Nội (Xuân Quý Hợi - 1983).
Từ xà lim án chém Khám Lớn Sài Gòn đến địa ngục trần gian Côn Đảo, đồng chí Phạm Hùng luôn là tấm gương sáng về tinh thần kiên trung, bất khuất; luôn lạc quan tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng. Từ năm 1934, đồng chí liên tục tham gia cấp ủy nhà tù, rồi trở thành Bí thư Đảo ủy, đã cùng các đồng chí trong chi ủy nhà tù lãnh đạo, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt với bọn cai ngục, đòi giảm chế độ khổ sai, cải thiện chế độ nhà tù. Họ đã biến nhà tù thành trường học cách mạng, góp phần nâng cao trình độ, nhận thức cho tù chính trị cũng như trau dồi phẩm chất, ý chí cho những con người đang bị đày đọa bởi xiềng xích, đòn roi.
Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 9/1945, đồng chí Phạm Hùng cùng 1.800 tù chính trị Côn Đảo, trong đó có các đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Lê Văn Lương, Lê Thanh Nghị… được cách mạng đón về đất liền, bước vào cuộc chiến đấu mới giữa lúc vận nước đang "ngàn cân treo sợi tóc". Đồng chí Phạm Hùng được bầu vào Xứ ủy
Trên cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí Phạm Hùng đã góp phần quan trọng xây dựng tổ chức, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ Nam Bộ những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Với tư cách Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc, đồng chí Phạm Hùng đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng Công an cách mạng ở Nam bộ, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nhân dân. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng, đồng chí Phạm Hùng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương và chỉ định tham gia Trung ương Cục miền Nam. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, đồng chí Phạm Hùng đã cùng tập thể lãnh đạo Đảng ở miền Nam vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng vào thực tiễn cách mạng miền Nam, góp phần xứng đáng vào những thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến. Năm 1956, tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II), đồng chí Phạm Hùng được bầu vào Bộ Chính trị; được phân công làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương. Đến năm 1967, đồng chí Phạm Hùng được cử vào chiến trường miền
Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, đồng chí Phạm Hùng tiếp tục được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách mới: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an); từ năm 1987 đến khi qua đời là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Trên mọi cương vị công tác, đồng chí Phạm Hùng luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc mẫu mực, luôn chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng…
Chúng ta đều biết, Lực lượng CAND ra đời trong Cách mạng Tháng Tám, được Bác Hồ trực tiếp lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Tháng 3/1948, trong thư gửi Công an khu XII, Bác Hồ đã huấn thị 6 điều về Tư cách người Công an cách mạng. Cùng thời gian này, đồng chí Phạm Hùng cũng đang có mặt ở Chiến khu Việt Bắc. Đồng chí đã được gặp, báo cáo với Bác Hồ và được Người căn dặn nhiều vấn đề tâm huyết. Ngay khi trở lại Nam bộ (năm 1950) và được Xứ ủy phân công phụ trách Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng chí Phạm Hùng đã cùng tập thể lãnh đạo tiến hành củng cố, kiện toàn lại hệ thống lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát lại các cơ sở trong nội thành và tiến hành các biện pháp ngăn chặn sự phá hoại của địch thông qua nội gián.
Là người lãnh đạo lực lượng Công an cách mạng ở miền Nam ngay từ năm 1946, đến năm 1980, đồng chí được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch Hồi đồng Bộ trưởng phụ trách nội chính kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Đây là thời điểm đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn, thử thách. Trên cương vị của mình, đồng chí Phạm Hùng luôn quan tâm chăm lo công tác xây dựng lực lượng, tập trung chỉ đạo đẩy mạnh các biện pháp công tác Công an; đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Trong công tác và sinh hoạt, đồng chí Phạm Hùng luôn coi trọng việc học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy CAND. Ngay từ rất sớm (Tết Tân Mão 1951) tại chiến trường Nam bộ, đồng chí đã tặng Ty Công an Gia Định bức ảnh chân dung Hồ Chủ tịch, phía sau có đề tựa - cũng là chỉ đạo của đồng chí: "Nhơn dịp Tết, kính tặng: Ty Công an Gia Định hình ảnh của cha già để luôn tưởng nhớ đến Người và cố gắng thực hiện 6 lời dạy của Người đối với Công an". Từ đây, Ty Công an Gia định và Công an ở nhiều địa phương đã dấy lên phong trào học tập và làm theo 6 điều Bác Hồ dạy CAND. Phong trào ngày càng có sức lan tỏa và vẫn giữ nguyên giá trị trong công tác xây dựng lực lượng CAND hiện nay.
Ôn lại cuộc đời, sự nghiệp vẻ vang của đồng chí Phạm Hùng, chúng ta trân trọng một tấm gương trọn đời hy sinh vì nghĩa cả