Triết lý về “một con người”!

Theo một khảo sát, tác phẩm "Đôn Kihôtê" của Xécvantéc (1547 - 1616) có nhiều bạn đọc chỉ sau "Kinh Thánh". Nhưng khi mới ra đời, tiểu thuyết không được đánh giá cao, có lẽ vì ý nghĩa sâu sắc chưa hiểu ngay.

Đi suốt tác phẩm, bên cạnh Đôn Kihôtê cao gầy, hốc hác, đăm chiêu cưỡi con ngựa già gầy trơ xương là Păngxa khỏe mạnh, thấp béo, tươi tắn. Nhìn từ cấu trúc mô hình, họ là đối cực của nhau. Nếu không có trò, một mình thầy chắc khó đi đến, hoặc có đi đến cái "đích" lý tưởng "cứu nhân độ thế" đã đặt ra từ đầu, câu chuyện cũng nhạt.

aaa.jpg -0
Vườn Địa Đàng. (Tranh minh họa)

Có thể thêm một cách hiểu về cuộc hành trình của họ chính là cuộc hành trình của một con người vươn đến mục đích đã định, luôn phải đấu tranh, phải kiên trì, phải quyết liệt giữa hai bờ vực chênh vênh: mơ mộng, viển vông và ảo tưởng, hão huyền; tỉnh táo, cụ thể và chắc chắn, thực dụng. Nhìn vào tác phẩm hay, người đọc sẽ thấy mình trong đó. "Đôn Kihôtê" hấp dẫn người đọc còn ở chỗ, ai cũng thấy trong mình có cả Đôn Kihôtê, có cả Păngxa (!?).

"Tây du ký" (Ngô Thừa Ân) cũng có thể hiểu tương tự. Chủ yếu nhờ Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới hàng phục yêu quái mà thầy trò Đường Tăng sang đến được Tây Trúc. Có thể hiểu yêu quái là biểu tượng cho những gian nan vất vả trên đời. Kinh Phật là biểu tượng cho lý tưởng ở đời.

Đây là câu chuyện về một con người trên hành trình đi tìm lý tưởng (Kinh Phật), con người (Đường Tăng) chủ yếu phải dựa vào sự khôn ngoan trí tuệ (Tôn Ngộ Không), chứ không thể dựa vào cảm xúc bồng bột (Trư Bát Giới). Chỉ vậy mới có thể vượt qua mọi khó khăn trở ngại (81 nạn) để thành công.

Hầu như ai cũng có thể đồng ý rằng, trong con người mình đều có cả Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới. Nhiều lúc "chất" Trư Bát Giới trội lên, khi đó, nản lòng, nản chí, muốn hưởng thụ, chơi bời, dễ quên nhiệm vụ…

Xét đến cùng, các triết học đều nói về con người. Cũng vậy, các nghệ thuật, xét đến cùng, cũng đều nói về con người. Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng nói, "bên trong mỗi con người đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ". Ý ông dặn mình và dặn bạn viết đừng viết "một chiều" chỉ có tốt, mà cả hai chiều, nếu không sẽ sa vào "minh họa". Thực ra, L.Tolstoy đã tâm niệm điều ấy lâu rồi. Thế nên, nhân vật của đại văn hào Nga sinh động, nhờ được xây dựng là một thực thể phức tạp, tồn tại, đấu tranh, xung đột giữa các tính cách cả cao thượng, tốt đẹp, cả hèn kém, xấu xa...

Cho đến cuối thời trung đại, văn chương vẫn giữ kiểu kiến tạo hai hình tượng đối cực, mâu thuẫn nhau về tính cách, nhưng là để nói về một con người. Bước sang hệ hình mới, khi bút pháp phân tích tâm lý phổ biến (tiêu biểu là L.Tolstoy), nét tư duy ấy mới được khắc phục. Đó là quá trình đấu tranh phức tạp, tinh vi "con người trong con người". Chí Phèo của Nam Cao là ví dụ. Thằng Chí Phèo không chỉ say rồi "rạch mặt ăn vạ", còn rất sâu sắc khi yêu, thậm chí còn có linh giác về một tương lai bất an, khi đưa ra một câu hỏi đầy tính dự cảm: "Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?"…

Một cổ mẫu xa xưa nhất của nhân loại là Vườn Địa Đàng trong "Kinh Thánh", theo cách hiểu phân tâm học, cũng là biểu trưng về một đời người. Giai đoạn "Ađam và Eva bị cám dỗ" (tuổi dậy thì) là thời kỳ khủng hoảng phá phách, ưa tự do, hay chống đối, phản ứng, đam mê, bồng bột, dễ bị quyến rũ, dễ sa vào tính dục.

Giai đoạn "sống ngoài vườn địa đàng" (tuổi trưởng thành) có ý thức trách nhiệm trong việc lập thân. Đàn ông phải kiếm sống nuôi gia đình, đàn bà phải mang nặng đẻ đau. Phải vượt mọi vất vả để tạo dựng mái ấm gia đình riêng. Thiên thần "cầm gươm đứng gác cửa" Vườn Địa Đàng biểu trưng cho sự ngăn chặn trốn chạy trách nhiệm… Hiểu vậy, ai cũng có "vườn địa đàng" của riêng mình, có "trái cấm" là bước ngoặt trong đời... Trong Vườn Địa Đàng có cây "biết lành, biết dữ", cũng rất đối lập.

Ở phương Đông, nguyên lý âm dương chi phối gần như tuyệt đối mọi khoa học về con người, thể hiện rõ nhất trong y học cổ truyền. Với quan niệm con người là một thực thể, có âm, có dương, trong âm có dương, trong dương có âm, nương tựa lẫn nhau, xen kẽ vào nhau trong sự tồn tại phát triển. Nguyên nhân bệnh tật là do mất cân bằng âm dương, nên về bản chất, chữa bệnh là điều chỉnh lại để tạo sự cân bằng. Như vậy, con người sinh học cũng là "sự thống nhất của các mặt đối lập".

Soi những vấn đề mang tính nguyên lý trên vào một số tác phẩm cổ tích, truyền thuyết của ta, có thể thêm cách hiểu sau.

Truyện "Thạch Sanh - Lý Thông" là cấu trúc mô hình một người đàn ông với những đối cực thiêng/phàm, cao thượng/hèn kém, tốt/xấu. Tên gọi cũng thiêng. Đá (thạch) là một cổ mẫu thiêng. Ngày xưa, nhân vật lịch sử đáng kính sẽ được "dựng tượng đá" hoặc xây mộ đá. Ngôi chùa/đền thiêng được làm bằng đá... Điều phổ quát này có trong mọi nền văn hóa. Luôn được lấy từ núi đá, mà núi đá gắn liền với sự vững chãi, lâu bền, muôn thuở. Hơn thế, núi đá chính là một "phiên bản" của "cây vũ trụ" nối đất và trời, rồi thành "cột" chống trời… "Vật tổ" xa xưa nhất là "trụ trời" (trong "Thần trụ trời") được đắp bằng (đất) đá. Bà Nữ Oa vá trời bằng "đá" là vì thế.

Ở Ấn Độ, các bậc tu sĩ tu tập và "đắc đạo" trên núi đá. Các vị tiên trong truyền thuyết Trung Hoa cổ cũng luôn sống trên núi (đá), thậm chí chơi cờ trên núi (đá), bàn cờ hẳn cũng bằng... đá. Chàng Thạch Sanh chẳng phải sinh ra (Sanh) từ đá (Thạch) đó sao. Chàng là biểu trưng cho khát vọng về người đàn ông hoàn hảo nhất: mạnh mẽ, bản lĩnh, tài năng (Giết mãng xà vương, diệt đại bàng); có tâm hồn nghệ sĩ (gẩy đàn thu phục quân 18 nước chư hầu); có phép màu (niêu cơm ăn hết lại đầy); có tinh thần cao thượng (cứu công chúa, cứu con vua Thủy Tề). Còn là biểu trưng cho khát vọng vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao, từ một người nghèo chỉ mảnh khố che thân nhưng trở thành phò mã…

Đại để, đó là mẫu người lý tưởng mang tính tiêu biểu cho mọi thời (đến nay vẫn rất cần những "Thạch Sanh"). Đối cực với chàng là Lý Thông đủ điều hèn kém… Nhưng nhờ có Lý Thông, Thạch Sanh mới có "điều kiện thể hiện"… Dân gian không để Lý Thông chết sớm, mà luôn để nó "song hành" cùng Thạch Sanh. Bởi Lý Thông chính là "mặt trái" của người đàn ông, theo Dịch học phương Đông, là "phần âm", xấu xí, tối tăm. Thạch Sanh là phần "dương" sáng chói.

untitled-12.jpg -1
Thạch Sanh – Lý Thông (Tranh minh họa).

Cấu trúc này tương tự truyện "Tấm Cám". Cám nanh ác, lười biếng bao nhiêu, Tấm thật thà, chăm chỉ bấy nhiêu. Khi sống chăm chỉ, chết hóa thành quả thị vẫn chăm chỉ. Cám ít nói, hầu như chỉ nói mỗi câu (Chị ơi đầu chị có cứt trâu…). Tấm nói rất nhiều. Có hóa kiếp vẫn nói nhiều. Hóa thành chim vàng anh, Tấm vẫn đay đả, chua ngoa: "Giặt áo chồng tao/ Thì giặt cho sạch...". Hóa thành khung cửi, vẫn đanh đá, thách đố: "Cót ca cót két/ Lấy tranh chồng chị…". Ngoài ý nghĩa xã hội, tiếng nói là biểu hiện cho khát vọng tinh thần dân chủ; còn là một "dấu chỉ" cho tính cách phụ nữ Việt: nói nhiều!

"Tấm" là phần gạo nhỏ nhất bị vỡ/gãy vụn trong quá trình xay giã (xưa). "Cám" là lớp vỏ bên ngoài và một phần phôi của hạt gạo bị nghiền ra khi giã (gạo). Tấm, cám đều từ hạt gạo mà ra. Tấm Cám trong cổ tích cũng từ một người đàn bà có thân phận hẩm hiu (trong xã hội phong kiến) mà ra. Họ cũng mang đối cực âm dương triệt để. Phải chăng những cổ tích trên cũng là triết lý thâm sâu về một người phụ nữ, mang ý nghĩa giáo dục không dễ nhận ra.

Một, cái xấu như là một thực thể tồn tại tất yếu trong cuộc sống, bên cạnh (ta), trong (ta). Vấn đề cơ bản là nhận thức đúng về nó để dần loại trừ, không để nó khắc chế, chi phối (ta). Nhiều khi cái xấu lại có ý nghĩa tích cực, thử thách bản lĩnh, thúc đẩy ý chí, nghị lực vươn lên. Lúc này cái xấu lại là chất xúc tác để (ta) có những hành động tỉnh táo, khôn ngoan. Vì là một phần của cái xấu, nên những tai ương, gian nan, vất vả (ta) gặp trong cuộc sống, như là sự đương nhiên vậy. Đời người là quá trình loại bỏ cái xấu, vượt qua cái gian nan, vươn tới lý tưởng. Thế nên, những người không có "kẻ thù" luôn nhạt nhẽo!

Hai, ngoài cảnh giác với cái xấu bên ngoài, còn phải cảnh giác với bên trong chính mình. "Sông có khúc người có lúc". Là người tốt nhưng vẫn có thể trở thành người xấu (do môi trường đưa đẩy, do không làm chủ bản thân…). Không bao giờ toàn vẹn, vì thế con người phải luôn vươn lên, phải luôn đấu tranh loại bỏ phần "âm" tiêu cực, đen tối, để tỏa sáng phần "dương" tích cực, tốt đẹp!

Xin được tiếp thu các ý kiến phản biện!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).