Trăng Yên Tử trong thơ Hoàng Quang Thuận

Không lấy gì làm ngạc nhiên khi trong tập "Thi Vân Yên Tử " của GS.TS. Hoàng Quang Thuận có hẳn một bài thơ về trăng với nhan đề "Trăng Yên Tử". Âu đó là mối duyên tiền định giữa các thi nhân và "nàng trăng" tri kỉ, mà Xuân Diệu đã khái quát thành vần thơ triết lí đầy cảm xúc: " Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ ".

Điều làm chúng ta ngạc nhiên về Hoàng Quang Thuận là khả năng sáng tạo của anh - một cây bút không chuyên, nhưng lại sải những bước đi khá vững chãi, thoải mái, không dẫm đạp lên dấu chân của các thi nhân đi trước.

Trăng treo lơ lửng trên cành tùng
Trăng rắc vàng lên cánh hoa nhung
Sương đêm sực nức mùi hoa đại
Mỗi bước trăng trôi giữa núi rừng… 

Lung linh huyền ảo ánh trăng rơi
Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời
Hạ giới thần tiên hay đất Phật
Chị Hằng chú Cuội mãi rong chơi?

Cả bài thơ dạt dào một cảm xúc về trăng. Trăng lênh láng, bàng bạc trong không gian. Trăng chảy tràn cả thời gian. Câu mở đầu thì đà quá rõ: "Trăng treo lơ lửng trên cành tùng". Còn câu cuối không trực tiếp nhắc đến trăng, nhưng trăng lại xuất hiện đến những hai lần - qua hình ảnh rong chơi của chị Hằng và chú Cuội. Điểm đặc biệt trong cách kết cấu bài thơ là ở đó. Kết cấu vòng tròn nhưng không gây cảm giác lặp bởi sự sáng tạo của tác giả. Sáng tạo này bắt nguồn từ cái nhìn sâu thẳm của tác giả từ trong cội nguồn văn hóa dân tộc. Lấy thi liệu từ trong truyền thống, bài thơ đã tạo cảm giác rất gần gũi với độc giả ngay từ khi mới đọc lên. Bởi đối với người Việt chúng ta, hình ảnh vầng trăng, chị Hằng, chú Cuội đã đi vào tâm thức.

Đọc kỹ bài thơ ta sẽ thấy cách miêu tả trăng độc đáo của Hoàng Quang Thuận. Xưa nay các thi nhân thường sử dụng những "mĩ từ" thuộc  tính từ để miêu tả về trăng: "Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi" (Ca dao); "Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai mặt một lời song song" (Nguyễn Du); "Làn ao lóng lánh bóng trăng loe" (Nguyễn Khuyến); "Trăng sáng trăng xa trăng rộng quá/ Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ" (Xuân Diệu); "Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ/ Vầng trăng từng khuất nửa ở trong nhau" (Hoàng Hữu)… ở đây, nhà thơ lại sử dụng một loạt động từ để miêu tả trăng trong cái nhìn vận động, di chuyển: trăng treo, trăng rắc, trăng trôi, trăng rơi. Dưới ánh mắt của thi nhân, trăng hiện lên như một sinh thể có hành động, có tâm tư… dứt khoát nhưng vẫn tinh tế, mĩ miều. Những từ láy: lơ lửng, lung linh mang lại vẻ mềm mại, dịu dàng, đầy nữ tính cho vầng trăng của Hoàng Quang Thuận. Hẳn "nàng trăng" đang "làm duyên" với thi nhân, hay sự nhạy cảm cho phép thi nhân nhìn ngắm rõ hơn "cái duyên của nàng trăng" giữa  chốn bồng bềnh hư ảo.

Ngay cả khi nhan đề của bài thơ không "mách nước" cho người đọc biết đây là trăng ở nơi núi rừng Yên Tử, thì độc giả vẫn nhận ra không gian thơ thiền trong bài thơ, dựa vào những dấu hiệu chỉ dẫn nơi cảnh vật. Đó là hình ảnh của không gian quen thuộc nơi chùa chiền: cành tùng, hoa đại, núi rừng, tiếng hạc… Một không gian có đầy đủ màu sắc (vàng lên cánh hoa nhung), mùi vị (sực nức mùi hoa đại), âm thanh (tiếng hạc). Tất cả hòa quyện kết tụ với nhau, tạo thành một bức tranh đẹp mê hồn. Trăng tự nó vốn đã đẹp, vẻ đẹp ấy càng được thăng hoa lên khi được khúc xạ qua cảnh vật nơi núi rừng Yên Tử. Ta cũng đã từng gặp một không gian trăng đẹp "như vẽ" trong thơ Hồ Chí Minh "Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa". Như vậy, từ một vầng trăng chung của muôn đời, Hoàng Quang Thuận đã sáng tạo một vầng trăng riêng của mình giữa chốn núi rừng Yên Tử.

Đến với cõi thiền vào một đêm trăng như thế, cảm giác mơ hồ, huyền ảo khiến thi nhân tưởng mình đang lạc vào mê cung. Chỉ khi âm thanh xuất hiện đột ngột mới làm cho anh sực tỉnh. Tất nhiên không phải là âm thanh ồn ã xô bồ của cuộc sống đời thường, mà là âm thanh riêng biệt nơi cõi thiền: tiếng hạc.

Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời
Hạ giới thần tiên hay đất Phật

Câu thơ mang âm hưởng của tiên sinh Tản Đà - người trong lúc cao hứng từng muốn lên "cung quế" với chị Hằng để quên bớt những nhức nhối của cuộc sống trần ai. "Tiếng hạc" của Tản Đà làm xao động cả không gian Tống biệt, gợi cho thi nhân ý thức rõ ranh giới giữa chốn bồng lai tiên cảnh và chốn trần ai (Nửa năm - tiên cảnh; Một bước - trần ai). Với Hoàng Quang Thuận, "Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời" lại khiến cho thi nhân thêm ngỡ ngàng và tự hỏi "Hạ giới thần tiên hay đất Phật". Có lẽ hỏi mà không cần phải trả lời. Mỗi câu trả lời đều đúng mà chưa đủ. Sự hội tụ đã đến mức nhuần nhị, khó có thể phân tách rạch ròi. Bởi cả thi nhân và độc giả đều biết, giữa chốn núi rừng Yên Tử (hạ giới) nơi đó cảnh đẹp huyền hồ, như mê cung, như cổ tích (thần tiên), cũng là chốn thanh thoát, tịch diệt (đất Phật) mà Vua Trần và Thiền phái Trúc Lâm đã đi vào lịch sử dân tộc như một huyền thoại. Phải chăng đó là sự hội tụ, gặp gỡ, giao hoà giữa thiên nhiên, đất trời và lòng người (Thiên - Địa - Nhân). ở đây cái "tiểu ngã" đã thực sự hòa vào cái "đại ngã" để vượt lên sự hữu hạn của đời người, mà tiếp nối trong cái vô thủy vô chung của vũ trụ. Ta hiểu vì sao Khổng Tử lại dạy cho các đệ tử của mình cách để giữ được một giọt nước, là  hãy hòa nó trong đại dương bao la.

Cả bài thơ chỉ có vầng trăng huyền ảo, phong cảnh trữ tình, mà không thấy bóng dáng con người trần thế. Dường như cái tôi trần thế của thi nhân cũng đang nương náu, ẩn mình để không phá vỡ sự mơ hồ, tịch diệt siêu thoát của cảnh vật chốn thiền cung. Bởi vậy, mãi đến câu cuối, hình ảnh con người mới xuất hiện thì cũng chỉ là những biểu tượng, mà không phải là con người cụ thể. Chị Hằng, chú Cuội đi vào tâm thức của người Việt như một khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống trần thế… để hướng về một thế giới khác - nơi chỉ có cái đẹp ngự trị, nơi con người không còn bon chen, mưu tính, ở đó họ vượt lên sự hữu hạn đời người.

Đưa hình ảnh chị Hằng, chú Cuội "mãi rong chơi" để khép lại bài thơ của mình, chứng tỏ Hoàng Quang Thuận ý thức rõ sự hữu hạn của con người, sự phù du của đời người. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là thi nhân có cái nhìn bi quan yếm thế. Ý thức rõ sự hữu hạn của con người, sự phù du hư ảo của đời sống vật chất, thi nhân đã tìm ra cho mình cách vượt ra những giới hạn đó bằng đời sống tinh thần. Hưởng thụ tinh thần là hưởng thụ bền bỉ, lâu dài mà chỉ những ai có tầm nhìn mới thấy được.

Quá trình đến với Yên Tử của Hoàng Quang Thuận như là mối "duyên" tiền định. "Hơi thở của thiền học đã thấm nhuần vào cảm hứng trinh nguyên" và thăng hoa thành những vần thơ đậm chất lịch sử, văn hóa, giàu chất trí tuệ, đầy suy tư, chiêm nghiệm, đặc biệt trên tất cả là cái tâm, cái tình của thi nhân. Chúng tôi mượn câu thơ bất hủ của Nguyễn Du để kết luận về anh: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"

Ts. Dương Thị Ánh Tuyết - VNCA Xuân Nhâm Thìn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).