Trái tim hót tiếng vô thanh

Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu tặng tôi sách "Phồn Sinh" - Trường ca. Khi anh lấy từ trong túi ra để trước mặt bàn và đề "Thân mến tặng...", nói thật tôi vừa mừng vừa choáng về độ dày của tập thơ. Rất may, thời văn minh nên bây giờ có loại giấy xốp ngoại, siêu nhẹ. Khổ sách 16x24cm, dày 712 trang, đo được đúng 2 cm. Kinh ngạc về nội lực và sức viết của anh.

"Trường ca Phồn Sinh tôi bắt đầu viết từ tháng 1/2002 tại Malaysia và Singapore và kết thúc tại Hà Nội tháng 1/2014. Trường ca gồm 150 chương, 136.369 chữ và gần 13 ngàn đơn vị câu thơ", nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu giới thiệu. Tôi cảm ơn anh, còn xác định nội lực cần thiết nghiền ngẫm với "Phồn Sinh".

Và rồi tôi đọc. Đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Trường ca "Phồn Sinh" khá đặc biệt về hình thức. Nó được viết phỏng theo mô thức dòng chảy tuôn trào của sông Hồng mùa lũ lụt. Toàn bộ trường ca không hề có bất cứ một dấu chấm, dấu phảy, dấu chấm than, dấu hỏi… nào. Mặc dù có những câu thơ dài đến 1.559 hoặc 1.716 chữ. Cả trường ca chỉ có duy nhất một dấu chấm kết thúc.

"Phồn Sinh" là trường ca hầu như không còn lưu giữ dấu vết của trường ca truyền thống. "Phồn Sinh" là một văn bản tích hợp trong đó cả thơ, văn xuôi và triết học. Cách xử lý kết cấu hiện đại. Tiếp cận vấn đề và sự kiện mang tính phức hợp, đa chiều. Nội dung phong phú ẩn chứa nhiều lớp, tầng. Tư tưởng thẩm mỹ phi truyền thống của tác giả nhất quán, xuyên suốt.

Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu (trái) tặng sách cho tác giả bài viết.
Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu (trái) tặng sách cho tác giả bài viết.

Nhà lý luận phê bình Đỗ Ngọc Yên xác quyết với tôi rằng: "Nếu không tìm ra từ khóa, rất khó để đọc Phồn Sinh, càng không thể hiểu về Phồn Sinh".

Nói thật, không riêng tôi, cầm trên tay trường ca "Phồn Sinh" hẳn nhiên người đọc e ngại, dè chừng. Con người hình như quên sống chậm và chỉ thích online? Không chỉ bạn đọc bình thường, nhiều nhà thơ đã tâm sự thế. Thế nhưng lần giở "Phồn Sinh" mới biết, người bận rộn, có thể lật giở dăm ba khúc hoặc đọc đảo chiều giữa các khúc, vẫn nắm được một phần nào đó giọng thơ, cá tính của Nguyễn Linh Khiếu.

Vì "Phồn Sinh" là một văn bản mở, không dấu phẩy, dấu chấm, câu ngắn câu dài (thơ văn xuôi) đan xen, lúc buông lơi, lúc dồn nén. Để thám mã sức sống trào sôi cũng như giá trị tư tưởng của thế giới "Phồn Sinh", người đọc cần huy động tất thảy năng lực cảm thụ, cảm xúc, tư duy của mình. "Phồn Sinh", như tên gọi của nó, sinh/chửa nhiều, ra đời nhiều, nảy nở nhiều, nhiều sự sống, nhiều hàm ý thâm sâu về kiếp nhân sinh, về sinh thái, về đất nước và nhân dân.

Ngôn ngữ chủ yếu của "Phồn Sinh" là ngôn ngữ tự sự, nhưng khi hoán chuyển, phân đôi theo kỹ thuật "tấm gương", mỗi khúc như là một giọng, cùng soi chiếu vào nhau, đối thoại với nhau. Sự phức điệu này giúp nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu dễ dàng khai thác tận cùng đặc tính phồn thực của sinh thái.

Chủ thể trữ tình "ta" tuy giữ vai trò chủ đạo, là người kể chuyện, nhưng biết tiến lùi hợp lý, trân quý nguyên tắc điều bình của sinh thái. Vì thế, mạch thơ cứ sinh sôi, trù phú, phá vỡ dung lượng, kết cấu truyền thống của trường ca. Nhiều tư tưởng, quan niệm, chủ đề, sự kiện, sự việc… được diễn giải, lập luận thấu đáo. Chúng như là những xương cá bám trụ chặt chẽ trên trục chính: trục phồn sinh… Nói tóm lại, đó là vở kịch hát của Phồn Sinh với nhiều cung bậc, nút thắt, nút gỡ. "Phồn Sinh theo điểm nhìn của tôi, là những cuộc đối thoại lớn", nhà lý luận phê bình trẻ nhưng sức nghiên cứu vượt ra ngoài kích cỡ lứa tuổi Hoàng Thụy Anh đánh giá như vậy.

Nguyễn Linh Khiếu là nhà thơ của thử nghiệm, làm việc ở môi trường nghiên cứu, học thuật. Không biết có phải vậy không nhưng tôi có cảm tưởng trong "Phồn Sinh", tư duy được cộng hưởng hay nói cách khác "Phồn Sinh" là kết quả của khai phóng về một triết lý. Là người thử nghiệm cách tân, mở rộng kết cấu trường ca, Nguyễn Linh Khiếu đã khẳng định được tư duy, quan điểm, cá tính sáng tạo riêng. "Phồn Sinh" là chủ âm, là cái lõi/trục chính, làm nền cho những dữ kiện khác. Do vậy, mọi vấn đề, mọi đối tượng trong "Phồn Sinh" đều được ông phản chiếu một cách tự nhiên nhất. Hay nói cách khác, "Phồn sinh" là trung tâm hiện hữu của những gì nguyên sơ, hài hoà, nhân bản.

Nhà thơ, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Triết học Nguyễn Linh Khiếu sinh ra ở một huyện ven biển của tỉnh Thái Bình, nơi có con sông hùng vĩ sau khi chảy qua rất nhiều tỉnh, thành ở phía Bắc đã về với biển. Nó như một sự nhắc nhở, dòng sông nào cũng chảy, có nguồn, có cội; đại dương bao la nước là vậy nhưng đầy lên cũng nhờ các dòng sông.

Bìa tập thơ “Phồn Sinh” của nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu.
Bìa tập thơ “Phồn Sinh” của nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu.

Khoảng đầu quý 2-2019, anh bảo, anh bắt đầu nghỉ hưu, thời gian tới sẽ dành cho viết. Nghe, không hiểu cứ ngỡ anh ít viết. Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu xuất hiện cùng lứa những nhà thơ tích cực đổi mới thơ vào những năm 90 của thế kỷ trước. Với các tập thơ: "Chùm mơ tiên cảm" (1991); "Mùa thiêng" (1995) và "Hoa linh" (2000), từ hồi đó, Nguyễn Linh Khiếu đã để lại dấu ấn riêng trong tiến trình đổi mới thơ hiện đại. Việc anh công bố "Phồn Sinh", việc trong một năm anh in liền ba tác phẩm, gồm: thơ, trường ca và tùy văn với 1.144 trang in cho thấy sức viết dồi dào của anh.

Nguyễn Linh Khiếu là Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Việt Nam, tất nhiên rồi. Anh từng được Giải thưởng thơ báo Văn nghệ 1995 và Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2010, hai giải thưởng danh giá của thi đàn.

Trong ba tác phẩm nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu mới công bố năm 2018, tập "Sa hồng" (thơ và trường ca) là tuyển chọn những bài thơ tiêu biểu của anh được sáng tác trong các năm từ 2000 đến 2017. Tập thơ gồm 51 bài thơ và 1 trường ca ngắn. Sách dày 120 trang khổ 13,5x20,5 cm. Điều thú vị là gần một nửa số bài thơ của tập này được tác giả viết ở nước ngoài (25/52 bài).

Tập "Beijing - Lá phong vàng" (tùy văn), gồm 182 tùy văn hết sức cô đọng và mang âm hưởng thơ văn xuôi. Đó là những mẩu chuyện nhỏ bé được thể hiện bằng ngôn ngữ hình tượng và sống động bởi một nhà thơ. Sách dày 312 trang, khổ 13,5x20,5. Đây là tập sách được tác giả viết trong thời gian làm việc tại Trung Quốc. Dĩ nhiên đây hoàn toàn không phải là sách du ký. Với "Beijing - Lá phong vàng", Nguyễn Linh Khiếu đã cho thấy sự sinh động và hấp dẫn của văn xuôi được viết bởi một nhà thơ.

Trong ba tác phẩm này, trường ca "Phồn Sinh" xứng đáng được gọi là một khối rubic đồ sộ, mỗi chiều xoay là một dữ kiện sống động.

Ngoài đời, nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu thuộc tuýp người "dễ gặp", "dễ gần", ít ồn ào. Gần như qua bài thơ "Hạt mưa" trong tác phẩm "Sa hồng" anh tự thuật bản thân mình: "là hạt mưa/ bao giờ ta cũng sống ở trên trời/ bao giờ cũng trong suốt/ bao giờ cũng rười rượi/ bao giờ cũng đầm đìa những mùa hạn hán cánh đồng trần gian/ ta bay lên trời từ căn bếp mịt mù rơm rạ".

Và vì cuộc đời là thế: "không ai trở lại tuổi trẻ của mình/ sông Hồng vẫn dạt dào đôi mươi nước nôi sa hồng lai láng/ những bãi ngô non những bãi dâu xanh những mùa hoa cải những bông trinh nữ run rẩy tím ngát triền đê/ ta mong manh gió chiều/ em mong manh hương quê" (Sông Hồng)

Trong "Sa hồng" có 2 bài thơ nói về một loài hoa, đó là "hoa hạnh" và "thiên đường hoa hạnh". Đó là loại hoa làm trái tim thi sỹ thổn thức: "anh có một Hải Phòng trắng ngần hoa hạnh trắng/ một nỗi niềm không thể nào thổ lộ với biển khơi/ thủy thủ ra đi không bao giờ trở lại/ mối tình ra đi vô vọng vỗ chân trời" (Hoa hạnh). Chính vì thế, nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu có một ước mơ: "nếu ta có một nắm đất/ ta sẽ vùi hạt hạnh vào trong/ cầm trên tay đợi khi mùa xuân tới/ hạt hạnh trên tay sẽ lặng lẽ nảy mầm" (Thiên đường hoa hạnh)

Và, lớn hơn là một khát khao:

nếu ta có một quốc gia
trên lãnh thổ nhiệt đới phì nhiêu của mình ta chỉ trồng hoa hạnh
người yêu hoa khắp thế gian hành hương về chiêm ngưỡng
thiên đường hoa hạnh của thi nhân

"Anh có vẻ là "tín đồ" của hoa hạnh? "Hạnh" có phải là phẩm hạnh?", tôi thắc mắc. "Hạnh đào là loại hoa có thật, còn được gọi là biển đào hay đào dẹt. Đây là loài hoa thường nở sớm... Trong ngôn ngữ loài hoa, Hạnh đào mang ý nghĩa "thầm lặng" hoặc "mỏi mòn", nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu "bật mí". Thảo nào trái tim Nguyễn Linh Khiếu hót tiếng vô thanh, mòn mỏi với cuộc đời, với thơ, bè bạn và tìm cách giải mã về phồn sinh.

Ngô Đức Hành

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).