Trà Giang, Thiên Ấn chuông gầm sóng

Miền đất Quảng Ngãi với tôi là hình ảnh của một cô gái Chăm xinh đẹp với đôi mắt to đen mơ màng. Lâu nay, thành cổ Châu Sa luôn ẩn giấu những điều kỳ bí. Trong Bảo tàng Quảng Ngãi lưu giữ hàng ngàn kỷ vật của một đế chế Chăm hùng cứ nơi đây. Con sông Trà Khúc luôn cuộn sóng mỗi mùa lũ về bên núi Thiên Ấn. Một cảm giác bồi hồi trong tôi khi vừa bước chân tới miền đất này.

Thiên Ấn Niêm Hà

Trong dân gian luôn truyền tụng câu "Núi Ấn, sông Trà" mỗi khi nói đến thành phố Quảng Ngãi (tỉnh Quảng Ngãi). Đây là hình ảnh tập trung cho miền đất tuy âm thầm lặng lẽ nhưng đầy sóng gió qua lịch sử. Núi Ấn chính danh là Thiên Ấn Niêm Hà (Dấu trời đóng bên sông). Bởi lẽ nếu nhìn từ xa từ bốn phương ngọn, núi này có hình thang cân tựa như một chiếc ấn triện từ trên trời rơi xuống. Núi cao hơn 100m có đỉnh của hình thang cân nên bằng phẳng (rộng chừng 4ha) nằm trong cánh rừng đầy cỏ tranh hoang dã. Trong khi đó chân núi có chu vi hơn 5km với diện tích gần 20 ha.

Trà Giang, Thiên Ấn chuông gầm sóng -0
Góc thành phố Quảng Ngãi.

Theo sự tích dân gian, vào năm 1695 có một thiền sư (tên là Lê Duyệt) lên đỉnh núi dựng am thờ Phật. Ngài cho phát quang cánh rừng tìm chỗ đào giếng. Ngày qua ngày, thiền sư đào rất nhiều nơi nhưng không hề thấy nước. Đất núi xen lẫn đá son vừa cứng vừa dẻo quánh khó dò tìm nguồn nước. Thiền sư đành chỉ ăn nước trong hang cùng lá cây, củ rừng để tụng kinh niệm Phật. Có lần, ngài ngồi thiền suốt bảy ngày bảy đêm ngỡ như kiệt sức.

Một đêm nọ, ngài mơ thấy vị Bồ Tát xuất hiện chỉ cho chỗ có mạch nước trên núi. Sáng hôm sau, bỗng có một vị sư trẻ từ phương xa cũng lên núi tình nguyện cùng thày đào giếng. Hai người đào tới cả tháng trời vẫn chưa thấy nước. Dù đói ăn khát uống nhưng họ không nản vẫn tiếp tục đào. Rồi đến một hôm tia nước đầu tiên bật ra. Sau đó nguồn mạch nước đùn lên lênh láng. Quá sung sướng, thiền sư vội hứng nước uống thử. Không ngờ nước ngọt ngào và có mùi thơm của hoa cỏ nên ngài chắp tay khấn vái tạ ơn Bồ Tát.

Khi thiền sư quay lại thì nước đã dâng đầy mặt giếng và không thấy vị sư trẻ kia đâu nữa. Ngài cứ ngẩn ngơ đi tìm người quanh núi quanh rừng đã mấy ngày mà không thấy. Thiền sư chợt nghĩ, hay đó là người trời hạ giới xuống giúp nhà chùa. Trong dân gian đã kể lại: "Có thày đào nước trên non/ Đến khi có nước không còn tăm hơi". Mọi người đều gọi đó là giếng Phật. Từ đó chùa Thiên Ấn được hình thành ngày một mở rộng và linh thiêng khắp vùng đất Quảng.

Thiên Ấn vì có chất đất sét đỏ nên còn được gọi là Thổ Châu (núi đỏ). Ngay từ đầu, các nhà sư đã lấy đất hòa nước sông Trà làm son viết sớ và thảo văn tế. Học trò các đời sau cũng đều lấy đất khoáng ở núi mài mực viết chữ, đề thơ vẽ cảnh.Vậy mới có câu đối trong dân gian lưu truyền: "Son núi Ấn, mài hòn son Ấn, ấn tốt son tươi/ Nước sông Trà, pha nấu nước trà, trà thơm nước động".

Khi đứng trên núi Ấn, mọi người có thể nhìn hướng về phía biển và ngắm thành cổ Châu Sa, một di tích của người Chăm với những chiến tích huy hoàng một thời. Đây là một trung tâm kinh tế văn hóa của tiểu vương quốc Chăm Amaravati lớn nhất trong khu vực Quảng Nam, Quảng Ngãi vào năm 903. Thành cổ rộng hàng chục vạn mét vuông có hai vòm cung dẫn nội thành tới sông Trà Khúc. Tại đây được coi là bến cảng tấp nập bán buôn với các thương nhân nước ngoài. Kề bên gần Cửa Đại, nơi nước sông Trà chảy ra biển, còn có cảng Thu Xà của người Hoa cũng sầm uất một thời.

Thành cổ Châu Sa là trung tâm văn hóa, kinh tế Chăm và là điểm tựa cho người Việt di cư vào Quảng Ngãi làm ăn sau này. Đây là thành cổ duy nhất của người Chăm để lại dấu tích (còn khá nguyên vẹn) trên sông Trà Khúc mà không nơi nào có.

Sông Trà cuộn khúc     

Nhớ có thời cố thi sĩ Bích Khê (1916-1946) ở Thu Xà, Quảng Ngãi đã lên núi Ấn dựng chòi sinh sống và chữa bệnh. Nước giếng Phật đã làm giảm lui cơn đau ngực của nhà thơ. Bao đêm ông ngồi lắng nghe tiếng chuông chùa ngân nga lan tỏa khắp vùng quê. Trong lòng thi nhân luôn vang vọng nỗi sầu nhân thế qua những vần thơ: "Trà giang, Thiên Ấn chuông gầm sóng/ Vang tiếng ngàn năm đất Cẩm Thành/ Ngàn năm quả Ấn nằm trơ mốc/ Một dải sông Trà chảy sậm xanh…/ Nghìn dặm cố nhân đâu đó tá/ Cánh chim kêu lạnh đập trong cành" (Trên núi Ấn nhìn sông Trà).

Trà Giang, Thiên Ấn chuông gầm sóng -0
Thổ cẩm làng Teng (Quảng Ngãi).

Dòng sông Trà Khúc một thời gắn bó mật thiết với con thuyền của Bích Khê du ngoạn đó đây. Những chuyến đi của kẻ giang hồ bay bổng qua những vần thơ trĩu nặng tâm tư. Nhà thơ viết: "Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh/ Anh có khi nào trở lại chưa?/ Ngày đi chậm lắm. Dòng sông biếc/ Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa" (Làng em). Còn nữa, trăng trên sông đã từng gieo sầu trong những vần thơ Cao Bá Quát khi ông qua đây. Ông vừa chơi đàn vừa hát lên tiếng lòng khi chia tay một người bạn cố tri: "Ở đời muốn gặp nhau chẳng dễ/ Uống cùng trăng, ta sẵn rượu thơm/ Sông Trà trong vắt như gương/ Gương trăng đáy nước vấn vương với người" (Trăng sông Trà - theo bản dịch Vũ Bình Lục).

Sông Trà Khúc dài chừng 140 cây số chảy từ thượng nguồn núi Đăk Tơ Ron (cao 2350 mét- thuộc Kon Tum). Đồng thời lại được hợp lưu từ bốn con sông khác nên dòng nước Trà Khúc hay gây lũ lụt vào mùa mưa. Con sông chảy qua thành phố Quảng Ngãi rộng mênh mông. Người dân tộc Chăm đặt tên "sông Trà" theo danh xưng của dòng họ Trà làm vua ở xứ này, đóng đô ở Trà Kiệu. Diện tích sông cùng với các nhánh phụ lên tới 3240 km2 nên khối lượng nước khá lớn. Vùng hạ lưu sông  trước khi chảy ra biển còn lưu dấu một di sản thành Chăm khác trên núi Phú Thọ. Đây coi là thành gác biên cương nơi sóng gió biển Đông. Thời gian sau trụ sở này cũng trở thành căn cứ của quân nhà Nguyễn trong quá trình mở rộng bờ cõi về phía Nam.

Nếu trên núi Ấn có di tích văn hóa với ngôi mộ của chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947); thì bên sông Trà Khúc cũng có đền thờ anh hùng dân tộc "Bình Tây Đại Nguyên Soái" Trương Định (1820-1864). Đây là hai danh nhân nổi tiếng có công với sự nghiệp cách mạng chống giặc Pháp xâm lược và giải phóng dân tộc. Danh nhân Huỳnh Thúc Kháng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia Chính phủ với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1945). Sau đó ông còn được cử làm Quyền Chủ tịch nước Việt Nam (từ 31-5 đến 21-9-1946) khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán. Cuối năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng là đặc phái viên của Chính phủ vào làm việc tại cơ quan Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ đóng tại Quảng Ngãi. Năm sau (4-1947) ông mất vì bị bệnh nặng và được chôn cất trên núi Thiên Ấn.

Đền thờ anh hùng Trương Định bên sông Trà được dựng tại Bình Sơn quê hương ông. Danh tướng Trương Định là võ quan triều Nguyễn nhưng đã đứng lên tập hợp nghĩa quân chống giặc Pháp. Ông trở thành "Bình Tây Đại Nguyên Soái" do dân của ba tỉnh miền Đông bầu làm thủ lĩnh. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân kéo dài 5 năm với nhiều chiến công tiêu diệt binh tướng giặc Pháp.

Không ngờ trong lực lượng có nội gián nên tướng Trương Định bị giặc Pháp bao vây. Ông chiến đấu chống trả quyết liệt nhưng bất ngờ bị trúng đạn trọng thương. Biết mình không thể sống, ông đã rút gươm tự sát không để cho địch bắt. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã làm 12 bài thơ ca ngợi anh hùng Trương Định. Trong đó có bài văn tế điếu ông: "… Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ/ Cái ấn Bình Tây đất vội chôn/ Nỡ khiến anh hùng rơi giọt lụy/ Lâm dâm ba chữ điếu linh hồn".

Bến tình

Dòng sông Trà Khúc luôn vang vọng những câu hò điệu lý của nam thanh nữ tú đi dự lễ hội hàng năm. Câu hò quen thuộc với mọi người dân xứ Quảng luôn ngân nga: "Bao giờ Thiên Ấn hết tranh/ Sông Trà hết nước anh đành xa em". Đặc biệt những câu hát bài chòi có những ví von liên tưởng rất sống động về non sông gấm vóc quê nhà. Dòng sông Trà luôn huyền ảo khi hoàng hôn buông xuống hoặc những đêm trăng lững lờ trên núi Ấn. Sinh thời thi sĩ Bích Khê đã miêu tả: "Say khướt hơi thu. Trong nắng dịu/ Chiều tà, lá rụng bến sông yêu/ Mơ màng thấy dạng người nhi nữ/ Buồn mác bên hoa lệ nhỏ đều" (Thu).

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).