Tiếng tuồng Kẻ Gám

Trở lại với những dòng hồi ức trong một trạng thái phấn chấn đến kỳ lạ, nghệ nhân Phạm Văn Lạng bảo, cứ như những gì mà các bậc tiền nhân truyền lại, lúc đầu đã tưởng tuồng cổ không thể có "đất sống" ở đất Kẻ Gám. Vì lẽ, tuồng cổ là bộ môn nghệ thuật mang tính bác học với tính ước lệ cao của những điển tích cũ. Mỗi một điển tích đều gắn với các nhân vật lịch sử. Đã vậy, tuồng cổ lại rất khó nhớ, khó mà thuộc một cách dễ dàng.

Mời khách cốc trà nóng mang làn hương của món chè xanh đặc trưng quê mình, người nghệ sĩ tuồng làng Kẻ Gám, ông Phạm Văn Lạng thân thiện mở lời: "Thật ra cũng chả riêng gì nhà bác lấy làm khó hiểu như vậy đâu. Hầu hết người trong thiên hạ khi về Kẻ Gám đều có chung cảm giác, nhắc tới xứ Nghệ quê tôi là phải nói tới những làn điệu dân ca có "thương hiệu" từ đời nảo đời nao. Nào là hò ví dặm. Nữa là hát phường vải. Ấy là ca trù. Lại còn cả chèo nữa cơ đấy.Vậy nên mấy ai nghĩ, ngay từ thế kỷ 19, Kẻ Gám đã hình thành, phát triển một bộ môn nghệ thuật bác học. Đó là tuồng cổ. Chẳng phải duyên kỳ ngộ hay sao, nhà bác nhỉ?".

Nghệ nhân Phạm Văn Lạng kể, đất Kẻ Gám có con sông Dinh chở đầy chất thi ca thuộc vùng quê lúa Yên Thành của Nghệ An là đất của "bờ xôi ruộng mật" với "cây đa bến nước sân đình". Đất lành đã hun đúc nhiều bậc danh hiền, học hành đỗ đạt để trở thành những học giả, cụ đồ nho, các bậc sỹ phu yêu nước. Gia đình có "của ăn của để", những con người ấy đã bước ra khỏi lũy tre làng Kẻ Gám đi giao du khắp chốn thiên hạ. Thế rồi một vài người có cơ duyên tiếp xúc với những bậc thày tuồng - những "cây đa cây đề" trong làng tuồng xứ Huế và "đất tuồng" Bình Định.

Tiếng tuồng Kẻ Gám -0
Nghệ nhân Phạm Văn Lạng giúp các diễn viên tuồng Kẻ Gám ôn lại kịch bản trước đêm diễn.

"Say tuồng" đến độ không thể dứt ra được một ngày nọ, những người con của Kẻ Gám đã đưa rước các thầy tuồng về chốn chôn nhau cắt rốn để truyền dạy những ngón bài lòng bản của nghệ thuật tuồng cổ cho người làng mình. Người ta làm việc đó như một sự hiếu nghĩa đầy đặn hơn cả bát nước đầy với quê cha đất tổ. 

Trở lại với những dòng hồi ức trong một trạng thái phấn chấn đến kỳ lạ, nghệ nhân Phạm Văn Lạng bảo, cứ như những gì mà các bậc tiền nhân truyền lại, lúc đầu đã tưởng tuồng cổ không thể có "đất sống" ở đất Kẻ Gám. Vì lẽ, tuồng cổ là bộ môn nghệ thuật mang tính bác học với tính ước lệ cao của những điển tích cũ. Mỗi một điển tích đều gắn với các nhân vật lịch sử. Đã vậy, tuồng cổ lại rất khó nhớ, khó mà thuộc một cách dễ dàng.

Buổi ban đầu bỡ ngỡ tiếp cận với tuồng cổ của người nông dân - nghệ sĩ Kẻ Gám khó khăn là vậy. Nhưng người Kẻ Gám vốn có "duyên tiền định" với tuồng cổ "từ kiếp trước"  thành ra, chỉ sau một thời gian ngắn, bộ môn nghệ thuật trứ danh này đã nhanh chóng sâu rễ bền gốc tại miền quê thuần nông xứ Nghệ.

Nghe bảo, thuở ấy, tuồng cổ không chỉ đơn thuần "người làng diễn người làng xem" mà nó còn có cơ may được vời vào cung biểu diễn cho các bậc vua cùng chúa thưởng lãm. Cái cụm từ "tuồng Kẻ Gám" được định hình nơi cửa miệng người trong thiên hạ kể từ đó. Nó đánh dấu cái thời hoàng kim có một không hai của cái gọi "nghệ thuật tuồng trên cây lúa" tại miền quê bờ xôi ruộng mật Kẻ Gám.

- Thời kháng chiến chống Pháp, tuồng Kẻ Gám mình góp phần làm nên một chiến thắng Điện Biên "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" thì đã rõ như ban ngày rồi. Có điều thời đó, gian khó thế nào, tôi cũng chả nhớ lắm, vì còn là đứa trẻ trâu. Nhưng mà gì chứ, trần đời chửa bao giờ gian nan, vất vả, thiếu thốn đủ bề như những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ấy thế nhưng, lúc đó lại là thời kỳ vui nhất trần đời cả nhà ạ! - ánh mắt rưng rưng nhìn vào cõi xa xăm, nghệ nhân Phạm Văn Cung bồi hồi trong trạng thái đầy kiêu hãnh, vô vi - Sung sướng vì hầu như đêm nào cũng được gửi những tích tuồng cổ đến với quân dân trong xã ngoài huyện để tiếp thêm hào khí dân tộc giúp họ vững tay cày chắc tay súng bảo vệ trời biển quê hương, nước non. Thật chả gì sướng bằng!

Mạch cảm xúc thiêng liêng dâng trào, ông Phạm Văn Cung hào hứng kể, những "năm tháng gian lao mà anh hùng" ấy, mặt trời chưa kịp lặn, ở đồng về vứt vội cái cày, đôi quang gánh… vào góc vườn, chân tay lấm lem bùn đất, thây kệ chả thèm rửa ráy. Cơm nước lại càng chả thiết màng tới dù bụng rỗng tuếch. Cứ thế là xấp ngửa lo "cả trăm thứ việc không tên" cho một tối diễn tuồng đêm nay góc sân chùa làng này; tối mai sân đình xã bên.

trang 20 - một trích đoạn trong đêm diễn của tuồng kẻ gám.jpg -0
Một trích đoạn trong đêm diễn của tuồng Kẻ Gám.

Sân khấu dựng tạm vội vàng bằng tre bằng nứa. Mà cũng chả thể đào đâu ra những thứ đèn đóm, thiết bị âm thanh tối thiểu cho một đêm diễn. Vậy là thắp đèn dầu. Đốt đuốc lên soi đường cho các nhân vật anh hùng trong lịch sử bước ra sân khấu.

Những đêm tuồng huyền thoại thấm đẫm chất sử thi anh hùng ấy, dửng dưng kệ bố từng đàn máy bay Mỹ gầm rú. Rồi thì bom đạn làm tan nát bầu trời. Nhưng những "Lưu Bình - Dương Lễ", những "Trưng Trắc - Trưng Nhị", những "Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga", những "Trần Quốc Toản ra quân", "Tống Trân - Cúc Hoa",… với sự "cháy hết mình" của những người nông dân áo vá Kẻ Gám vẫn cứ hồn nhiên, vô tư hiện hữu.

Trong giây phút xuất thần thành những vua sáng tôi hiền; những hào kiệt lẫm liệt khí phách anh hùng; những nàng công chúa hiền thục,… thì tiếng gầm rú của đám "thần sấm con ma" cùng bom đạn của chúng dẫu có là "tiếng thú" song với những người nghệ sĩ - nông dân Kẻ Gám họ lại "nghe tiếng bom rất nhỏ" (Phạm Tiến Duật), mới thần diệu làm sao.

"Phải lòng" tuồng từ cái ngày còn là cô gái làng bím tóc đuôi gà chưa hề biết khái niệm "đàn bà là gì", nghệ nhân Hoàng Thị Dung, nàng Mỵ Châu đẹp như một pho tượng nữ thần cổ đại ngày nào bỗng trở lại cùng dòng hồi ức tinh khôi với một thần thái trẻ trung đến diệu kỳ: "Thật thà với cả nhà, mai này dù có phải theo hầu ông bà ông vải rồi thì nhà em cũng chả thể quên những ngày diễn tuồng dưới mưa bom bão lửa ấy đâu nhé!".

Run run dùng bàn tay chùi nước mắt, bà Hoàng Thị Dung ngào ngạt cất giọng: "Ngày ấy, ăn còn chả được no bụng thì đào đâu ra cắc ra bạc để thửa son thửa phấn về "bôi tro trát trấu" vào mặt cho ra hồn ra cốt vai diễn của mình cơ chứ. Thế là cánh mình "tuyền" phải lấy lá cây; gạch non. Rồi thì nhọ nồi, đất sét,…thay phấn son để hóa trang. Nghèo là vậy, nhưng tuồng Kẻ Gám mình chả kém cạnh gì mấy ông mấy bà đoàn tuồng Nhà nước nhá!".

- Đâu đó thì tôi chả rõ, nhưng ở Kẻ Gám, tuồng cổ được lưu truyền, phát triển theo lối "cha truyền con nối" đấy nhà chú ạ! - chân thành chen lẫn niềm tự hào, nghệ nhân Phan Văn Cung thổ lộ - Người đi trước làm thày tuồng cho kẻ đi sau. Vậy nhưng tuồng cổ Kẻ Gám vẫn cứ có sức sống mãnh liệt. Chả thế mà, trong khi thiên hạ chả mấy người mặn mà thiết tha với tuồng, chèo, nhưng hiện tại ở Kẻ Gám vẫn cứ là 10 / 12 xóm có đội tuồng. Mà tuồng ra tuồng, kém gì mấy ông bà chuyên nghiệp!

- Phải! Đến tuổi trưởng thành, người Kẻ Gám không biết hát tuồng thì ngay giọng điệu hát cũng ra chất tuồng cả - Nghệ nhân Thái Văn Ân chợt nghẹn lời - Nhiều gia đình có tận bốn thế hệ biết hát tuồng. Lớp anh diễn, lớp em thuộc lòng từng câu hát, từng động tác vũ điệu, kỹ thuật hóa trang. Chắc nhà chú chửa biết đấy thôi, ngay như nhà "trùm Lạng" của cánh tôi đây, gia đình có 8 người con thì 5 người biết hát tuồng. Khiếp chửa nào!

Vui vẻ gật đầu xác nhận những gì mà người bạn diễn tri kỷ vừa bộc bạch, ông Phạm Văn Lạng thủ thỉ rót vào tai tôi rằng, nhờ có cái sự "trao truyền" ấy mà cả trăm năm nay với muôn vàn thăng trầm chìm nổi, nhưng chưa khi nào tuồng cổ Kẻ Gám bị đứt gãy gián đoạn. "Lửa tuồng" liên tục "cháy hết tầm" trong tâm hồn mỗi người dân Kẻ Gám, tạo cảm hứng hùng tráng - lãng mạn giúp họ tự tin làm chủ bản thân trong bất kỳ cảnh huống khốn khó, nguy nan nào.

*

Nghệ nhân trẻ Lê Duy Tài xúc động trải lòng, bao đời nay, người Kẻ Gám chết mê chết mệt tuồng cổ là bởi nó đã truyền cảm hứng yêu thương nước non; nghĩa - tình đồng bào sâu nặng; tình bè bạn cao cả; nghĩa vợ chồng son sắt thủy chung… đến với người nông dân miền quê thôn dã này.

- Qua bao cuộc bể dâu vuông tròn nhưng nhiều bài học lịch sử về dựng nước, giữ nước, nhân sinh quan. Và những phẩm chất tốt đẹp của con người qua những nhân vật  tuồng cổ ấy vẫn còn nguyên giá trị trong cái nhìn soi chiếu của con người hiện đại hôm nay cả đấy, bác ơi! - anh Lê Duy Tài chân thành trải lòng - Cánh trẻ bây giờ rất đam mê với những loại hình âm nhạc hiện đại, nhưng cứ đêm nào tuồng Kẻ Gám sáng đèn là y như rằng, cả sân vận động hàng nghìn chỗ ngồi cấm còn chỗ trống nào cả. Cánh trẻ gần xa lặn lội đến với những đêm tuồng cổ Kẻ Gám là tại họ muốn có cơ may soi chiếu vào các nhân vật trên sân khấu để trau dồi luân lý cho bản thân mình chứ chả phải vì đú đởn chơi bời đâu bác ạ!

Ra là vậy, với người Kẻ Gám, mỗi vở tuồng cổ là một bài học luân lý sâu sắc về thế giới quan, nhân sinh quan mang vẻ đẹp trường sinh bất tử của chân - thiện - mỹ. Học làm nghề; học làm người từ giá trị di sản văn hóa của cha ông để không bao giờ bị "hòa tan" dẫu có "ra biển lớn" là vậy chăng?!

Lê Công Hội

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).