(Nhân đọc tập thơ “Thời nắng xanh & những bài thơ khác” của nhà thơ Trương Nam Hương - NXB Hội Nhà văn, năm 2022)

“Thời nắng xanh & những bài thơ khác”trong cảm xúc của tôi

Nhà thơ Trương Nam Hương là cây bút có dấu ấn tên tuổi trong lòng bạn đọc từ những năm 80 của Thế kỷ trước. Anh cũng từng đạt danh hiệu “Nhà thơ được yêu thích nhất” do Báo Người Lao động bình chọn và phong tặng từ năm 1992.

Với tôi và rất nhiều bạn đọc cùng thế hệ, thơ Trương Nam Hương đã đi cùng năm tháng với mình. Giờ cầm cuốn “Thời nắng xanh & Những bài thơ khác”, lại như được gặp người thơ tài hoa - đa tình và lãng tử ấy.

148 bài thơ sáng tác dọc đời thơ đã về tụ hội. Thỏa sức hội tụ những đặc điểm tinh hoa nổi bật nhất của thơ Trương Nam Hương: Thông minh cách nhìn, tài hoa câu chữ và tinh tế cảm xúc.

Trời sinh ra người đời có đôi mắt để nhìn. Nhà thơ không khác người đời “Giàu hai con mắt”, nhưng nhà thơ khác người đời ở cách nhìn. Họ nhìn bằng trái tim, trí óc, bằng cảm giác, linh cảm và cả trí tưởng tượng về mọi điều trong nhân thế. Nhưng trong cách nhìn, các nhà thơ cũng không giống nhau. Bởi họ đứng ở góc độ khác nhau và tài hoa khác nhau. Thơ Trương Nam Hương điển hình cho điều ấy.

“Thời nắng xanh & những bài thơ khác”trong cảm xúc của tôi -0
Nhà thơ Trương Nam Hương.

Trước hết, anh thông minh trong cách nhìn và thể hiện cách nhìn. Ví như với các nhân vật Thị Mầu, Thúy Vân, Chí Phèo trong tác phẩm văn học Việt Nam. Anh không chỉ hóa thân làm họ mà còn nhìn thấy “ruột gan” họ ở một góc nhìn khác hẳn với người đời thường nghĩ. Với cách nhìn phát hiện này, ta gặp một Thị Mầu rất đáng cảm thông bởi bản năng đàn bà: “Tin yêu vụng dại đâm liều/ Em chơi vơi quá đơm điều chị thôi” (Ưu tư Thị Mầu). Ta gặp một Thúy Vân không hề vô tư nông nổi, biết đòi quyền yêu chính đáng cho trái tim mình: “Lấy người yêu chị làm chồng/ Đời em thể thắt một vòng oan khiên” (Tâm sự nàng Thúy Vân) và gặp một Chí Phèo bị đẩy đến bước đường cùng phải: “Chửi cho vỡ chén để vày mặt thôi” chứ đó là con người lương thiện nhất trong cõi đắng cay, hiểm ác, nghèo khổ mà “Khát khao lương thiện có thành được đâu” (Chí Phèo tự bạch).

Thơ Trương Nam Hương còn thể hiện cách nhìn thông minh về tình yêu khiến anh có duyên, thu hút phụ nữ, về thế sự khiến người đọc phải ngẫm nghĩ xót xa mà không nổi loạn đối kháng, về bà, về cha mẹ, khiến ta động lòng trắc ẩn mà thương cảm muôn kiếp người. Và đây là cách nhìn thời gian của nhà thơ tài hoa: “Thời gian rúc lòng người như mối vậy” (Gặp Kiều tiết Thanh minh); “Từ trong mắt/ Sông vừa trôi ngang cửa/ Mang nhan sắc những người đàn bà/ Về đâu/ Không hay” (Màu hoa khác); “Em qua xuân sắc bao giờ/ Để chân lược nhắc chiều thưa mái đầu” (Gửi hai dòng sông quê); “Thời gian lệch gió trên đầu/ Sớm hay sợi tóc chuyển màu sang trưa” (Nhặt tuổi mình); “Da mặt ngoại như vỏ cây tróc lở” (Thời nắng xanh)…

Thơ Trương Nam Hương còn thể hiện thông minh trong cách nhìn ở những câu thơ mơ hồ nhưng giàu sức liên tưởng, đầy gợi cảm: “Em hây hẩy khép chiều ngấn mẩy/ Sương buông nghiêng bóng liễu mơ gì” (Về lại); “Em nhón gót cho thời gian tụ lại/ Tay học trò giọt Hạ rớt lem xanh” (Sau lưng mùa Hạ cũ); “Đêm rập rình đom đóm giấu tai ương…/ …Mẹ âm thầm vá víu lại niềm tin” (Tạp cảm).

Những câu thơ trên, không cụ thể rõ ràng một điều gì mà ai cũng hiểu. Nhưng bởi nó mơ hồ nên nhiều cách hiểu khác nhau, bởi nó gợi mà sự tưởng tượng của người đọc tha hồ mơ mộng. Ấy là phẩm chất đích thực của thơ. Nhưng viết được thế không nhiều người.

Một thành công làm nên giá trị tập thơ mà nhiều bạn đọc tâm đắc là: thơ Trương Nam Hương tài hoa câu chữ. Điều này thể hiện ở việc sáng tạo từ ngữ và Phá cách luật thơ.

Chưa thống kê hết mà tập thơ đã có khoảng 3 chục từ “mới toanh” không hề có trong Từ điển tiếng Việt:

Sông lơ lạc; Nắng tung tuây; sông thon thắt; tiếng sông úng ớ; xanh xót đầu thu; thun thăn váy lá; cây khẳng khơ; Hà Nội lung liêng; trời đất ngây ngoai; Dênh giao giữa khoảng khuyết bồi; chớp bờ đê nháy nhóa; ghẹo ngốc ngây; thu nhơm nhớm tím; Xao xít dây bìm; dây khoai huây hoải; ngao ngát dây bìm; sóng nước ngung nguây; heo may ngao ngát; hoe hoét nắng; Em hây hẩy khép chiều ngấn mẩy; buồn lơ lạc; hơi mẹ ấp òa; bạn cười nhúm nhó; thấm thắc trôi; nở trên khấc khô; thấm thểnh oai xưa; phơ phay tóc mình; nhếch nhơ hè phố; tôi thơm thao bùn đất; loăn thoăn đồng đất; em hây hẩy muốt…

Sự sáng tạo này vừa làm mới ngôn ngữ thơ vừa tạo ra nhiều gợi cảm. Điều quan trọng là những từ sáng tạo đó vẫn gợi được hình, gợi được thanh, gợi được cảm, đôi khi gỡ bí cho thơ trong lúc gieo vần mà vẫn giữ được ý của câu thơ một cách tài tình: “Mùa đừng chuốc lá ta say/ Nhìn lên trán bạn phơ phay tóc mình” (Viết ở Nghi Tàm).

Về tài phá cách luật thơ và sáng tạo thể loại thơ: Đây chính là Trương Nam Hương đang đổi mới thơ nhằm thoát ra khỏi sự nhàm chán, cũ càng mà bấy lâu thơ đang tồn tại. Anh tung tẩy hình thức. Thơ không gò vào 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, lục bát, thất ngôn hay thơ tự do. Thơ anh phá cách về vần, luật, tạo thành một giọng điệu thơ khác lạ, tự nhiên, giúp người đọc cải thiện thính giác, giúp tập thơ có sức hút vì không cũ càng, nhàm chán với những âm điệu vần luật truyền thống quá gò bó.

Và cuối cùng tôi muốn nói tới một tài hoa nữa nhờ câu chữ của thơ mà nhận ra. Ấy là sự tinh tế trong cảm xúc.

Nếu chưa biết tác giả, chỉ đọc “Thời nắng xanh & những bài thơ khác”, hẳn ai cũng công nhận đây là cây bút đa tình và sâu sắc. Đa tình là bản tính của tất cả người làm thơ. Không đa tình không làm được thơ. Nhưng làm được thơ đạt đến độ sâu sắc, kéo được tâm hồn người khác nhập vào tâm trạng của mình thì khó. Vậy mà gần hết cả tập thơ, Trương Nam Hương đã đạt được điều ấy: “Chao ôi trời lẻ cánh diều/ Gió đâu thổi quắt một chiều xa quê” (Tha hương).

Một từ “quắt” dùng đúng lúc đúng chỗ là bật lên được tâm trạng. Có gì thương nhớ quắt ruột quắt gan. Có gì cô đơn quắt lòng quắt dạ, có gì thiếu vắng quắt queo tâm hồn… Chỉ một từ thôi mà thành tâm điểm nhức nhối, lan tỏa ra mọi tâm trạng. Ấy là tinh tế. “Rạ rơm vây ấm một vùng/ Bọc con vào giữa tận cùng hồn quê” (Khói bếp xưa).

Trong tập thơ, có khoảng 2 chục bài, nhà thơ viết về mẹ, có hình ảnh mẹ hoặc nhắc nhiều đến mẹ. Có 4 bài thơ viết về bà và 2 bài thơ về cha. Điều tinh tế là mỗi bài một tâm sự, một nỗi niềm riêng mà không trùng lặp tâm trạng, không trùng lặp hình ảnh, không trùng lặp ý tứ, không giống ai cách viết về cha mẹ (hoặc bà) của mình. Theo tôi, chùm thơ về mẹ cha và bà đã làm nên sức nặng giá trị nhất của tập thơ. Bởi bài thơ nào cũng sâu sắc, cũng gây ấn tượng, cũng để lại nỗi buồn thương da diết vì những câu thơ tinh tế giàu cảm xúc: “Ta từng khóc hoàng hôn tóc mẹ/ Hoa xoan rơi qua tuổi vô tình/ Kinh Bắc níu tháng ngày son trẻ/ Mẹ xuống đò nhận đắm thời xanh/ Phải quan họ mẹ buồn từ đấy/ Những đêm mưa Hà Nội đèn dầu/ Mẹ nhìn chớp bờ đê nháy nhóa/ Lặng ngước về Kinh Bắc hồi lâu…” (Hồi tưởng).

 Viết về mẹ, Trương Nam Hương không tả hoặc kể như bao người khác mà chỉ dùng phép biểu cảm là chính. Nhưng hiện lên chân dung một người mẹ đồng bằng Bắc bộ tảo tần và tài giỏi. Nghèo và nặng nghĩa. Thương yêu và chịu đựng. Đẹp và buồn.

Viết về cha, Trương Nam Hương có bài “Dâng cha” và bài “Lời thưa”. Vẫn không tả, không kể. Duy chỉ có cảm xúc trong ngôn từ và ý nghĩ của tác giả. Người cha hiện lên với quê hương xứ xở, với cảnh đời buồn thương của người đàn ông xứ Huế tài hoa đa đoan: “Trong cha có một câu hò/ Trong câu hò có con đò sông Hương/ Trong sông Hương có nỗi buồn/ Trong thăm thẳm có vô thường thi ca...” (Lời thưa).

Viết như thế là bóc từng lớp tâm trạng, vào đến tận cùng nỗi đời con người.

Phải từng trải, phải giàu vốn sống, phải có con mắt tinh đời, phải tài năng… nói chung là “phải” nhiều lắm thì thơ mới đạt được sự tinh tế trong cảm xúc như vậy.

Trong muôn vàn tập sách xuất bản tuôn trào ở những năm tháng này, “Thời xanh nắng & những bài thơ khác” là tập thơ đáng lưu giữ. Bởi những bài thơ trong đó đắp bồi cho ta thêm phong phú ngôn từ, góp phần làm giàu tiếng Việt. Cho ta những kinh nghiệm sáng tạo thú vị và chia sẻ những cảm xúc tinh tế giúp ta chạm đến được tâm hồn mình, giúp ta sống chân thiện mĩ hơn với cuộc đời này.

Hà Nội, ngày 1-5-2022

Nguyễn Thị Mai

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).