Thời Lê sơ - Những tiếng thơ trào phúng!

Trong “Kiến văn tiểu lục” học giả Lê Quý Đôn gọi giai đoạn đầu nhà Lê là “Lê sơ”, ngoài Nguyễn Trãi đỉnh cao, còn có nhiều tác giả văn chương khác rất đáng chú ý. Xin được giới thiệu một vài gương mặt thơ, nếu đặt trong dòng chảy văn học trào phúng của văn học trung đại, có thể coi họ ở miền thượng nguồn, ảnh hưởng trực tiếp đến “Hồng Đức quốc âm thi tập” và mãi sau này.

Lý Tử Tấn (1378-1457) cùng đỗ Thái học sinh với Nguyễn Trãi năm 1400 là tác giả phú nổi tiếng với “Chí Linh sơn phú”, “Xương Giang phú”… Nhà thơ còn sở hữu tiếng cười triết lý về cái được mất ở đời khá sâu sắc: “Trĩ ế dĩ vũ thái/ Quy chước nhân xác linh/ Tán tài tạ lương đống/ Chúc vĩ miễn hy sinh” (Chim trĩ bị giết vì có bộ lông đẹp/ Rùa bị nướng vì có cái mai quý/ Loại gỗ tạp khỏi bị xẻ làm rường cột/ Trâu cụt đuôi khỏi bị thui làm vật hy sinh - “Tạp hứng”).

Thời xưa, thường mổ trâu làm lễ tế thần nhưng phải là trâu khỏe, không bị dị tật. Nhiều chủ trâu “lách luật”, muốn giữ phương tiện cày ruộng, không muốn trâu bị giết, nên cắt cụt đuôi trâu. Bài thơ là tiếng cười giễu một nghịch lý ở đời: cái gì tốt đẹp lại thường bị làm vật “hy sinh”. Những cái gì xấu (gỗ tạp) lại sống lâu dài. Thì ra ở đời có quy luật này: những kẻ tồi, kém lại nhởn nhơ tồn tại, còn những người có tài lại hay phải “hy sinh”. Bài thơ mang màu sắc triết học có phần chua chát nói về sự thật thời nào cũng có.

image001.jpg -0
Một trường học ở Thanh Hóa mang tên vị quan thời Lê - Nguyễn Mộng Tuân.

Phải chăng thấu hiểu quy luật này mà trong thơ Lý Tử Tấn có tiếng cười buồn, mỉa mai kín đáo, như trong bài “Mạn hứng”: “Song gian dã mã kiền khôn đại/ Chẩm thượng hoàng lương nhật nguyệt trường/ Lộng xảo đồ lao xà hữu cước/ Hoành hành thùy ngộ giải vô tràng” (Ngồi tựa cửa sổ ngắm cảnh ngựa lồng mà tưởng trời đất lớn/ Nằm kê gối mộng kê vàng mà nghĩ ngày tháng dài/ Khéo vẽ rắn thêm chân làm gì cho mệt/ Ai lạ gì loài cua bò ngang là không có ruột). “Mộng kê vàng” là điển tích quen thuộc nói về thời gian trôi nhanh, kể Lư Sinh ngủ ở quán trọ nằm mơ được sống đời làm quan 18 năm phú quý rồi mất chức, tỉnh dậy nồi kê vẫn chưa chín. Ý nói đời người ngắn ngủi, vinh hoa phú quý chỉ là giấc chiêm bao, thế nên cần tôn trọng quy luật của tự nhiên: đừng vẽ rắn thêm chân…

Tác giả Nguyễn Phu Tiên tựa vào những điển tích để viết “Phú ngọc lành đợi giá” đậm tinh thần mỉa mai: “Biện Hòa nước Sở nín hơi, không dám khóc vì ngọc “Kinh phác”/ Tương Như nước Triệu rụt tay không dám dâng khối ngọc “Liên Thành”…/ Lòng tin là ngọc quý đời thịnh/ Giúp cho thiên hại thái bình/ Bỏ mất nó là nhục/ Giữ được nó là vinh”. Tích Biện Hòa nước Sở thời nhà Chu bắt được viên ngọc quý có tên “Kinh phác” bèn dâng lên vua Lệ Vương. Vua cho là ngọc giả bèn chặt chân trái. Lại đợi dâng vua Vũ Vương liền bị chặt chân phải. Phải đến lần ba dâng tới vua Văn Vương mới được coi là ngọc thật. Ý thơ châm biếm cay đắng những kẻ xu nịnh sẵn sàng hy sinh cả thân mình cho “vua”. Còn là cái ý ngọc quý phải vào tay người biết dùng, nếu không có thể dẫn đến sự chết người. Lại có tích Tương Như nước Triệu đem ngọc quý “Liên thành” sang nước Tần đổi thành, thấy Tần tráo trở liền tìm cách đem ngọc về. Cả hai điển tích răn dạy niềm tin ở đời là quý giá nhất, hơn cả ngọc.

Khác với nhiều nhà thơ còn tư tưởng hoài tiếc nhà Trần không chịu hưởng ứng chiếu “Kêu gọi hiền tài” của Lê Thái Tổ, Nguyễn Thiên Túng rất có ý thức nhập thế. Tiếng cười lạc quan trong thơ ông như khẳng định, khích lệ mọi người hòa nhập vào đời sống mới: “Giọng hót Triệu Cao/ Giọng người xu mỵ/ Hiền ác rủ rê/ Hoặc cười hoặc bỉ/ Thói đời đen bạc, há đáng bĩu môi/ Cơ hội nghìn năm, gặp đời thịnh trị” (Phú gà gáy sáng).

Triệu Cao thời Tống nổi tiếng nịnh hót. Thừa tướng Cửu Trụ thăm phong cảnh nói cảnh đẹp, chỉ thiếu tiếng chó sủa, gà gáy. Quả lúc sau có tiếng chó sủa, tiếng gà gáy cất lên trong bụi cây. Thì ra là tiếng Triệu Cao bắt chước. Ý thơ muốn nói, “đời thịnh trị” này thì không có Cửu Trụ nên cũng chẳng cần những Triệu Cao. Gặp “cơ hội nghìn năm” tốt đẹp, các văn nhân, hiền tài hãy như “gà gáy sáng” mở ra những không gian ấm áp, tốt lành.

Cùng với giọng lạc quan này, thơ Chu Tam Tỉnh kêu gọi nhân thế sửa mình bỏ cái cổ hủ theo cái tân tiến, hợp thời: “Nay lại đến Đoan Ngọ/ Đầu óc ngày lớn khôn/ Lẽ người chừng biết đủ/ Cớ chi thói đua đòi/ Chỉ tự mình theo cổ/ Rượu không dầm xương bổ/ Cửa không treo ngải hổ/ Cần gì tắm chậu lan/ Cần gì buộc dây đỏ/ Ngay lòng để sửa mình/ Không thẹn với vũ trụ/ Nếu không được như vậy/ Ích chi điều phù chú/ Lặt vặt khéo bày trò/ Theo chi những thói hủ” (Thơ làm trong Tết Đoan Ngọ). Bài thơ cho thấy phong tục Tết Đoan ngọ cách nay 600 năm: uống rượu dầm xương bồ (một loại cỏ quý); treo ngải hình con hổ; tắm chậu lan; buộc dây đỏ. Nhưng với nhà thơ, đó chỉ là “thói hủ”. Một quan niệm mới mẻ như vậy cho thấy ý thức đổi mới, phá cách đáng quý của nhà thơ.

Nguyễn Thiên Tích (1404-1466) là một tài năng được trọng dụng dưới triều Lê Thái Tông, thời Nhân Tông bị mất chức, đến thời Thánh Tông lại được phục chức. Năm 1434 ông làm Phó sứ sang Trung Quốc. Hình như vì sự chìm nổi ấy mà tiếng cười này chua chát, có phần cao ngạo: “Nửa đời nhọc lòng đọc năm xe sách/ Vẫn cứ giỏ cơm, bầu nước cũ, nếp sống cũ/ Nực cười đường công danh như cảnh đàn bà xếp giấy/ Thật đáng sợ con tạo như đứa trẻ chơi cát” (Mạn cảm). Mỉa mai đường công danh như đàn bà, tức đáng coi thường, hơn thế, lại như đàn bà xếp giấy (công việc vặt vãnh, hèn hạ) thì thật đáng khinh. Mỉa mai cả tạo hóa như trẻ con với những trò chơi tầm thường nhất.

image003.jpg -1
Lời giới thiệu về Nguyễn Thiên Tích, người được trọng dụng dưới triều vua Lê Thái Tông.

Thơ Nguyễn Húc (1379 - 1469) thiên về phong cách miêu tả hiện thực, phê phán, châm biếm những cảnh “ăn trên ngồi trốc”, xa hoa, coi thường dân nghèo. Là người yêu nước, năm 1418 Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, Nguyễn Húc mang toàn bộ quân gia hưởng ứng được Lê Lợi phong làm Phó tướng, chịu trách nhiệm trấn giữ miền Đông Bắc. Kháng chiến thắng lợi ông làm quan Tri phủ Bắc Ninh. Đây là tiếng cười hai chiều: mỉa mai những kẻ vô cảm nơi phồn hoa; thương cảm người dân lao động lam lũ: “Tràng An quý tộc bao người/ Nghênh ngang xe ngựa vang trời nhạc rung/ Áo bào khoác đã ung dung/ Trời mưa mình lại nép trong áo dầu/ Cao lương mỹ vị đủ điều/ Lại khinh những kẻ rau dưa tục tằn” (Than cảnh gió mưa). Tiếng cười hiện thực hiếm hoi này rất cần được nghiên cứu thêm.

Phan Huy Chú trong“Lịch triều hiến chương loại chí”, nhận xét về nhà thơ ẩn dật Lý Tử Cấu có “phong cách trong sạch, tiết tháo cao thượng”. Đậu Thái học sinh đời Hồ nhưng không ra làm quan; giặc Minh sang xâm lược thì đi ẩn; Lê Thái Tổ lên ngôi, cũng từ chối làm quan, Lý Tử Cấu được người đời kính trọng vì không màng danh vọng. Tiếng cười này gần với tiếng cười Nguyễn Húc, thường răn đời, hướng sự mỉa mai vào tính bạc bẽo của những gã đàn ông phụ bạc: “Nghe bọn trẻ ranh cám dỗ/ Chạy vạy chợ búa buông tuồng/… Nhìn đĩ rạc chạy quanh đường phố/ Ngắm mày xanh mê mẩn tấc lòng/… Bỏ vợ cũ chạy theo nàng trẻ đẹp/ Thích giàu sang quên bạn cũ bần cùng/ Rút cục sống theo phường có hại/ Để chí mòn. Khí tổn trống không…” (Phú ba người bạn quý).

Nguyễn Mộng Tuân (1380 -?) làm quan cả ba đời vua đầu thời Lê. Là nhà thơ nhập thế, tiếng cười Mộng Tuân mang tính thời đại, rất đáng được chú ý. Phong cách mỉa mai trong bài “Hàm Tử quan” tinh tế, khác lạ: “Quan Thượng tướng nhà Trần đúng là nòi rồng/ Chức Thiêm văn của nhà Hồ quả là gan chuột/ Cọc gỗ lớn chôn dưới sông, cỏ mùa xuân xanh thẳm/ Đầu lâu giặc gào dưới trăng, nước triều lạnh lẽo”. “Chức Thiêm văn của nhà Hồ” chỉ tướng quân Hồ Đỗ được Hồ Quý Ly sai trấn giữ Hàm Tử nhưng bị giặc Minh đánh tan. Khác hẳn “Thượng tướng nhà Trần” Trần Quang Khải. Phép đối “nòi rồng”/ “chuột nhắt” càng làm rõ tính chất hai triều đại mạnh yếu đối lập nhau. Giặc Minh còn bị mỉa mai đau đớn hơn: “Đầu lâu giặc gào dưới trăng, nước triều lạnh lẽo”…

Tại sao thời kỳ này tiếng cười đa dạng hơn tiếng cười trong “Hồng Đức quốc âm”? Phải chăng đây là lúc giao thời của ba triều đại: nhà Trần đã mất; nhà Hồ vừa tan; nhà Lê mới lập. Mà với những “kẻ sĩ” thì luôn nhạy cảm và chưa gột rửa hết tâm lý hưởng lộc vua phải thờ vua nên còn nhiều nghi ngại, lưỡng lự, băn khoăn. Những điều ấy trăn trở vọng vào tiếng cười - như là “cần ăngten” thu nhận những tần số văn hóa của xã hội, thời đại. Tiếng cười là “nhiệt kế” của thời tiết chính trị, là như vậy!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).