Thơ Thiền Lý Trần – Nhìn từ liên văn hóa!

“Liên văn hóa” (Intercultural) – hướng nghiên cứu mới của thế giới đề cao tính đối thoại giữa các nền văn hóa nhằm bổ sung cho nhau những tri thức để tạo ra các giá trị mới. Như cây xanh tỏa chùm rễ khỏe khoắn tới nhiều miền đất văn hóa còn cành lá quang hợp, hô hấp ánh sáng, không khí tâm hồn, tính cách bản địa rồi kết thành những trái tác phẩm giàu có ý nghĩa, “liên văn hóa” thơ Thiền Lý Trần là một trường hợp tiêu biểu.

Thiền tức “thiền na” được Hán văn phiên âm từ chữ “Dhyana” của ngôn ngữ “Sanserit” hay chữ “Jhana” của ngôn ngữ “Pali” (Ấn Độ) chỉ một pháp môn tu tập của phái “Du già” (Yoga) Ấn Độ cổ. Để tập trung tư tưởng, các đạo sĩ thường ngồi nghiêm trang, ngay ngắn dưới gốc cây. Thích Ca là người cải biến lối tu tập này thành “thiền na” kết hợp trí tuệ và thiền định. Thời Trần ở ta có “Thiền phái Trúc lâm Yên Tử” là kết quả của sự tiếp biến văn hóa Phật giáo để có những đặc điểm riêng rất quý: “Vô ngã vị tha” (lấy tâm thiên hạ làm tâm mình); tư tưởng nhập thế (giúp nước giúp dân)...

Khác với “Kệ” thiên về bình giảng lý thuyết Phật giáo, thơ Thiền là thơ của các nhà sư hoặc người hiểu Phật giáo dùng hình ảnh ngôn ngữ nhà Phật làm thành thơ để nêu một triết lý, bài học, cảm xúc, tâm trạng Thiền. Đặc trưng của thơ Thiền Lý Trần, nhìn từ liên văn hóa, là sự “hỗn dung”, hội tụ, kết tinh từ các mạch nguồn là văn hóa Việt với “Tam giáo đồng nguyên” Nho, Phật, Lão. Các tư tưởng triết học lớn luôn gặp nhau. Lại gặp gỡ ở xứ Việt có truyền thống yêu con người, yêu hòa bình, nhân ái nên các tư tưởng tự trừu xuất những điểm cực đoan để tương giao nhau trong một cơ thể văn hóa.

image001.jpg -0
Lão Tử, Đức Phật, Khổng Tử - một biểu tượng của “Tam giáo đồng nguyên”.

Dưới sự quy chiếu của văn hóa bản địa, tinh thần “cứu độ” của Phật giáo giao thoa với “hòa quang đồng trần” (hòa ánh sáng cùng cát bụi) của Đạo giáo, với chữ “nhân” (yêu thương con người) của Nho giáo để cùng làm nên nét tư tưởng mang tính bản sắc Việt. Điều này tạo cơ sở cho xu hướng thế tục hóa như một đặc trưng cơ bản của các tôn giáo. Ngược lại, càng thế tục hóa các tôn giáo càng xích lại gần nhau.

Trong sách “Thiền uyển tập anh” có trích câu nói nhà sư Viên Chiếu: “Trú tắc kim ô chiếu/ Dạ lai ngọc thỏ minh” (Ngày thì mặt trời soi/ Đêm thì mặt trăng sáng), ý nói cả Nho, Phật đều là ánh sáng soi chiếu nhân quần. Đáng chú ý là mặc dù có tiếng nói uy tín trong xã hội nhưng hai tôn giáo này không bị áp dụng cứng nhắc chứng tỏ một tinh thần dân chủ trong xã hội khá cởi mở.Vẫn trong “Thiền uyển tập anh” có chép sự tích các cao tăng nhưng vẫn có giọng văn đùa vui.

Chuyện kể vua Lý Nhân Tông sai thiền sư Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền bắt hai con tắc kè không được kêu nữa. Đạo sĩ niệm thần chú bắt một con phải rơi xuống đất. Giác Hải “thiền” nhìn vào con còn lại, kết quả nó cũng rơi xuống. Vua phục quá bèn làm bài thơ: “Giác Hải tâm như hải/ Thông Huyền đạo diệc huyền/ Thần thông kiêm biến hoá/ Nhất Phật, nhất thần tiên”. Bài thơ ngắn, giản dị, dễ hiểu phù hợp với cái ý vui vẻ khen ngợi cả hai vị thật tài năng.

Dĩ nhiên chả có chuyện niệm chú hay “thiền” bắt tắc kè rơi nhưng ý nghĩa về cái thời cả Phật cả Đạo được coi trọng ngang nhau và hai đạo hoà đồng với nhau là có thật. Ở thời thịnh Trần có cả những tiếng cười giải thiêng Phật giáo, có thể dẫn ra chi tiết về Tuệ Trung Thượng Sỹ có trong nhiều cuốn sử. Khi em gái (Thái hậu) mời Tuệ Trung ăn cơm, trong mâm có thịt ông vẫn ăn bình thường, em gái ngạc nhiên hỏi, anh đã theo Phật thì ăn thịt sao thành Phật được. Tuệ Trung thản nhiên đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh không muốn là Phật, Phật chẳng muốn làm anh”. Cơ sở xã hội của tiếng cười thời Trần không thể không tính đến yếu tố dân chủ đáng quý này. Đó còn là sự coi trọng cá tính, cái tôi cá nhân bắt đầu được chú ý, đề cao.

Như vậy, trước khi tạo ra một “liên văn hóa” trong thơ Thiền thì xã hội thời Lý Trần đã có một “liên văn hóa” giữa các tôn giáo cũng là các triết học! Thế mà đến nay vẫn còn ý kiến lạc lõng khi cho rằng văn hóa phải tách rời với chính trị. Họ không biết rằng từ thời Lý, các thiền sư vừa tu luyện Phật pháp vừa nhiệt tình tham gia chính sự. Sự “tùy duyên” ở thời Trần cũng là một cách gắn nối thiền sư với đời sống cộng đồng.

Ở cấp độ tác phẩm liên văn hóa tôn giáo/ triết học - chính trị càng rõ. Bài thơ “Quốc tộ” là một ví dụ. Nhiều sách sử nói về xuất xứ bài thơ này có từ câu chuyện bàn về vận nước giữa vua Lê Đại Hành và thiền sư Đỗ Pháp Thuận: “Quốc tộ như đằng lạc/ Nam thiên lý thái bình/ Vô vi cư điện các/ Xứ xứ tức đao binh” (Phúc/vận nước dài dằng dặc/ Cõi trời Nam dựng cảnh thái bình/ “Vô vi” nơi điện các/ Mà khắp chốn hết nạn binh đao). Các nhà sư thời ấy đều viết bằng chữ Hán nên thông tỏ văn hóa, nhất là Nho học Trung Hoa. Chìa khóa để hiểu bài thơ là ở tên bài với hai chữ “Quốc tộ” trước nay vẫn hiểu là “vận nước”, “phúc nước”. Có người đi xa hơn hiểu là “ngôi nước”, “ngôi vua”...

image003.jpg -0
“Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết...”

Có lẽ hiểu thêm, vì là một văn bản liên văn hóa nên cần đi bằng con đường này ngược về dòng văn hóa Trung Hoa sẽ thấy chữ “tộ” nghĩa là “phúc”, vẫn còn nghĩa là “vận” (hội), là “ngôi vị”. Nhưng chữ “quốc” thì khó hiểu hơn vì đa nghĩa, là nước (quốc gia, kiến quốc); liên quan đến nhà vua (quốc tính, quốc thích); cái đẹp nhất (quốc sắc); cái tượng trưng cho đất nước (quốc kỳ). Nhưng còn nghĩa là triều đại (bản triều) như “quốc triều”, “quốc sư”... Như vậy “quốc tộ” còn nghĩa là vận mệnh một triều đại. Cách hiểu này có căn cứ ở chỗ quan niệm ngày xưa vua là “thiên tử” thay trời cai quản dân, triều vua đại diện cho quốc gia.

Ngay trong “Thiên đô chiếu”, Lý Thái Tổ cũng dùng “quốc tộ diên trường” chỉ hai nhà Thương Chu kéo dài (diên trường) đối lập với hai triều đại Đinh Lê ở ta ngắn ngủi (phất trường). Hiểu thế thì nghĩa câu mở đầu rộng rãi hơn: “Vận mệnh triều đại dài dằng dặc”. Muốn vậy phải làm gì, như thế nào. Mấu chốt ở hai chữ “vô vi” rất khó dịch. Vốn là một khái niệm của Đạo giáo nhưng tiếp biến sang Phật giáo, Nho giáo nên dịch theo nghĩa của tôn giáo nào cũng không đúng. Nếu dịch thoát ý theo nghĩa của chữ là “không phải làm gì” thì triệt tiêu tư tưởng triết học kết tinh ở trong đó. Đặt vào văn cảnh bài thơ, nhất là trong mối liên hệ với “quốc tộ” thì ý tứ có phần nghiêng về Nho giáo (vô vi nhi trị - thánh nhân lấy đức cảm hóa (nên) không cần phải làm gì). Hiểu vậy thì “vô vi” là: (Vua) lấy đức nhân cảm/giáo hóa (bề tôi). Ý cả bài bật ra là một kế sách giữ nước: Nhà vua phải lấy đức nhân trị dân thì triều đại sẽ kéo dài, trời Nam sẽ thái bình, chốn chốn hết nạn bình đao. Rất Thiền và cũng rất chính trị!

Xin chuyển sang “liên văn hóa” thể loại và hình tượng, tiêu biểu ở bài “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác thiền sư có hai câu cuối: “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một nhành mai”. Khép lại nhưng cũng nâng bài thơ lên một tầm cao, hương sắc của hình tượng “một nhành mai” đã làm cả không gian Phật đường (sân chùa) tiết cuối xuân như bừng sáng. Nhành mai trở thành biểu tượng cho cái đẹp, cho sức trẻ, sức sống vươn mình lên trên mọi khoảng không thời gian. Cái đẹp, sức trẻ, sức sống có thể chiến thắng ngoại cảnh, chiến thắng quy luật của tạo hóa. Đó là một thách thức với vũ trụ! Ai bảo đấy là cái nhìn của nhà sư “diệt dục”!?

Nhìn từ “liên văn hóa”, trước đó trong thơ Đường cũng nhiều lần xuất hiện hình tượng này.“Tùng, cúc, trúc, mai” vốn là mẫu gốc từng lung linh bạt ngàn trong thơ Đường. Điển tích kể Tề Kỷ có bài “Tảo mai” (Mai nở sớm) có câu cuối: “Tạc dạ sổ chi khai” liền đem khoe. Người đọc (Trịnh Cốc) đáp: dùng “sổ” (một vài) thì không còn là “tảo” (sớm), chữ “nhất” hay hơn! Từ đó “nhất chi khai” chỉ hoa mai hay đi vào thơ. Sau này đến đời Thanh, nhà thơ Uông Trung có bài “Mai hoa” có câu cuối: “Cố viên hoa lạc tận/ Giang thượng nhất chi khai” (Vườn cũ hoa rụng hết/ Trên sông một nhành mai nở).

Tại sao “trên sông” mà có “nhành mai nở”? Xin bàn vào dịp khác nhưng chứng minh thế để thấy một hình tượng nghệ thuật đặc sắc sẽ tạo ra một “liên văn hóa” mạnh mẽ, bền bỉ trong các nền văn hóa. Khác với thơ Trung Hoa, cái nhành mai của Mãn Giác chính là một biểu hiện của xu hướng thế tục nhập Đạo vào Đời để cống hiến cho nhân quần. Đấy là một yếu tố để thơ Thiền Lý Trần trở thành một tài sản văn hóa của dân tộc!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).