Thơ gián tiếp và thơ trực tiếp

Đây là một câu chuyện khá dài dòng và cũng khá... cũ kỹ. Tuy nhiên, lâu lâu không thấy ai nhắc tới, vả lại nhân ngày xuân rỗi rãi, ăn cơm mới nói chuyện cũ cũng là việc thường thấy.

Về đại thể, ngôn ngữ thơ xưa nay có thể chia làm hai loại: Một loại tạm gọi là gián tiếp (hoặc khách quan) - là thứ thơ chỉ dùng ngôn ngữ kể và tả để tái hiện chất liệu đời sống một cách khách quan như cách đưa ra một câu chuyện, một bức tranh... còn tất cả dụng ý và định hướng về ý tưởng và cảm xúc của tác giả đều được giấu kín ở phía sau; loại thứ hai thì ngược lại, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ trực tiếp của tác giả ở ngôi đại từ nhân xưng thứ nhất, trong đó người viết giãi bày những suy tư và cảm xúc của mình như một lời tự sự. Có những bài thơ chỉ dùng một trong hai loại thủ pháp nói trên, nhưng không ít trường hợp hai loại được dùng đan xen với nhau.

Có vẻ như xưa nay loại thơ thứ nhất được vì nể hơn, vì quả thật đây là loại thơ đòi hỏi tài năng của người làm thơ rõ rệt: tài năng sáng tạo và cấu trúc tứ thơ, tài dùng hình ảnh, liên tưởng, tài dựng chuyện và tả cảnh . . . Tất cả những cái tài ấy tạo cho loại thơ này - đương nhiên với những bài thành công - đạt được những giá trị rất cao sang của thơ như tính hàm súc kiệm lời, khả năng ý tại ngôn ngoại, sức lay động có tính trực giác của chi tiết và hình ảnh, và cuối cùng là khả năng lưu giữ ấn tượng tức là sự ám ảnh. Xin lấy một vài ví dụ: Đây là khổ thơ quen thuộc trong bài "Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư:

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô

Trừ câu đầu dùng để đưa đẩy, còn lại đều là ngôn ngữ tả, khách quan và lạnh lùng. Tất cả hiệu quả cảm xúc và cả ý tưởng đều nằm ở phía sau bức tranh và nó tuỳ thuộc rất nhiều vào tâm thế, tính cách và sự từng trải của người thưởng thức - do đó nó thực sự chỉ là phần nhìn thấy của một tảng băng chìm theo cách nói của Hemingway, nó gợi và mở đến vô cùng.

Thơ gián tiếp và thơ trực tiếp -0

Gần hết cả bài "Ông đồ" của Vũ Đình Liên cũng như vậy:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Đó là ngôn ngữ kể. Giữa kể thỉnh thoảng xen vào tả:

Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay

Bài thơ quả là một bức tranh, hay đúng hơn, một đoạn phim quay nhanh với cái vẻ khách quan đến mức như là tác giả chỉ tình cờ mà chộp được - nhưng chính vẻ lạnh lùng và dửng dưng ấy vô tình hay hữu ý lại khiến cho cảm xúc của bài thơ bị nén lại như cuộn lò xo, để rồi cuối cùng, đúng lúc không nén nổi nữa thì nó bật ra:

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

Đây là câu thơ thuộc loại ngôn ngữ trực tiếp duy nhất của bài thơ - đó là thái độ của tác giả bộc bạch thẳng không qua hệ thống hình tượng. Như vậy trong bài thơ này, tác giả dùng cả hai loại ngôn ngữ và dùng rất thành công: Tiết kiệm đến cùng và chính xác đến cùng.

Những ví dụ về loại thơ này nhiều vô kể, nó như là một phép tắc làm thơ đã trở thành kinh điển mà kim cổ Đông Tây đều tuân theo. Chẳng hạn trong một bài thơ vào hàng bất hủ của thơ phương Đông như "Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu ta cũng thấy tác giả sử dụng thủ pháp ấy. Phần lớn bài thơ là ngôn ngữ kể và tả, từ "Hạc vàng ai cưỡi đi đâu” đến "Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non”, phải đến hai câu kết mới lại bật lên thứ ngôn ngữ trực tiếp của tác giả:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

                      (Bản dịch của Tản Đà)

Tóm lại, đã bao đời nay, loại thơ thứ nhất này ngự trị nền thơ thế giới, nhất là ở phương Đông và chắc nó vẫn trường tồn, vì dẫu cho có vật đổi sao dời, cách tân đổi mới kiểu gì thì đây vẫn là một trong những cái lõi bất biến của đặc trưng ngôn ngữ thơ, không ai có thể tuỳ tiện bỏ đi được.

Riêng tôi cũng luôn kính trọng loại thơ này, thậm chí thèm khát vươn tới nó. Nhưng kỳ lạ là vào những khoảnh khắc buồn bã, cô đơn hay khắc khoải nhất, tức là những phút cần đến thơ nhất, tôi lại trở về với những câu thơ thuộc loại thứ hai như đã nói trên đây: Thứ thơ giãi bày trực tiếp hồn mình trên trang giấy. Hãy nghe những dòng quá tha thiết của một Xuân Diệu:

Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em, em hỡi, anh nhớ em

Ấy là phút không còn thấy trước mắt một chàng thi sĩ hào hoa, duyên dáng hay uyên bác gì gì nữa, mà chỉ gặp một con người trần trụi trong đau buồn, nhớ nhung hay tiếc nuối đến tái tê, đến quên cả mọi phép tắc làm thơ, để tuôn ra rối rít những từ ngữ trùng lặp như một anh chàng quẫn trí đang lắp bắp những lời lẽ sáo mòn và lộn xộn:

Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm...
Trong năm câu thơ mà có đến tám từ "nhớ"!

Ngẫm cho cùng, thứ thơ trực tiếp này mới thực là cội nguồn của thơ vì nó ra đời từ thuở nhân loại thậm chí còn chưa có các thi sĩ, nói gì đến nghệ thuật và kỹ thuật. Bởi thế nó thực dễ mà cũng thực khó, thật cao mà cũng thật thấp, hay đúng hơn từ cao đến thấp chỉ cách nhau một sợi chỉ. Sợi chỉ đó là ranh giới giữa có hay không, nhiều hay ít một sự bảo lãnh tối thượng: Ấy là cường độ của cảm xúc. Hãy ngẫm nghĩ một chút về những câu thơ của Tố Hữu, chẳng hạn:

Anh Vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế

Hoặc:

Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi

Và nhất là câu này:

Mây của ta, trời thắm của ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Chúng ta thấy ngay, không phải lúc nào những câu sáo ngữ, thậm chí ngôn từ hành chính chay như vậy mà có thể ung dung đi vào thơ, mà đi vào một cách đắc địa và rất thơ! Phải chăng đây chính là ma lực của tình cảm được thốt lên đúng chỗ.

Cũng chẳng khó khăn gì để trích ra đây những câu thơ thuộc loại này mà gây ấn tượng vô cùng. Những thi sĩ đa cảm, đa tình và đa tài bậc nhất đều có lúc phải dùng đến thứ ngôn ngữ trần trụi này. Ấy là lúc họ quên hết mọi ý định làm thơ để khoe sắc diệu tài, họ chỉ còn đặt bút theo nhịp đập của trái tim. Xét theo định nghĩa gốc rễ của thi ca, đấy chẳng phải là tiêu chí tối thượng mà thơ phải vươn tới hay sao?

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).