Thơ cần hướng đến đời sống để nâng cao con người

Năm 2024, nhà thơ Mai Thìn ở Bình Định in liền 2 tập thơ tại NXB Hội Nhà văn "Tạ lỗi với mây xanh" và "Tiếng của thiên lương", đã được dư luận văn chương ghi nhận như một hướng đi mới của thơ khi tiếp cận đến mọi mặt của đời sống xã hội và những phận người, nhất là những nỗi đau của chiến tranh để lại không ít vết thương trong tâm hồn nhiều người.

Qua một số cuộc hội thảo về thi ca gần đây, có một số ý kiến cho rằng, dường như thơ hôm nay đã lánh xa đời sống con người, xã hội và đấy là một khoảng trống chưa thể lấp đầy. Nhưng, đọc 2 tập thơ mới in của Mai Thìn, tôi thấy thơ anh đã bắt đầu tràn vào "khoảng trống" còn thiếu hụt ấy, với những tứ thơ được khơi gợi, xuất phát từ chính đời sống xã hội để nâng cao con người với những chiều kích nhân sinh được khắc họa khá rung động.

Thao thức, trăn trở trước nỗi đau chiến tranh

Viết về nỗi đau chiến tranh với nỗi niềm trăn trở, day dứt như ứa máu trong tâm hồn nhà thơ khi tới thăm Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, trưng bày nhiều hộp thủy tinh đựng xác trẻ sơ sinh là nạn nhân của chất độc da cam làm người đọc kinh hoàng, xót xa: "Những ngôi mộ thủy tinh trong suốt/ chôn tuổi thơ chưa có tuổi thơ/ bao linh hồn/ đi-ô-xin cầm giữ/ vừa sinh ra/ đã phải đến đây rồi/ những em bé/ trong những ngôi mộ thủy tinh/ không biết khóc/ ngơ ngác mình đã đến từ đâu/ bàn chân nhỏ/ có em còn một ngón/ những ngón kia/ ác quỷ gặm hết rồi/ bao ngày tháng/ triệu triệu người đến viếng/ tự thắp cho mình/ niềm kinh hãi xót xa/ giữa thành phố/ những ngôi mộ thủy tinh trong vắt/ dắt díu nhau/ khắp thiên lương" (Những ngôi mộ thủy tinh trong suốt).

Thơ cần hướng đến đời sống để nâng cao con người -0
Nhà thơ Mai Thìn.

Bài thơ xúc động này như một lời tố cáo nỗi đau mất mát do chiến tranh gây ra, đã khiến những đứa trẻ vừa chào đời đã phải gánh chịu cái chết oan nghiệt, khi cuộc đời chưa kịp bắt đầu đã kết thúc một cách đầy bi thương. Những đứa trẻ vô tội này không có khả năng tự bảo vệ mình, không thể hiểu được lý do tại sao chúng lại phải ra đi, không biết được nguyên nhân vì sao mình phải chết khi chưa kịp sống. Bài thơ là sự cảnh báo, nhắc nhở về những đau thương mà chiến tranh để lại, và là lời cầu nguyện cho những linh hồn trẻ thơ ấy được yên nghỉ.

Cũng viết về nỗi đau chiến tranh và số phận bi đát của con người trong bom đạn, ở một góc nhìn khác, chính bản thân tác giả, gia đình và bạn bè cùng lứa ở quê hương cũng phải gánh chịu nỗi mất mát của những người con khi những người cha của họ bỏ mình nơi trận mạc, không biết máu xương thất lạc nơi nào: "Thương những bạn bè cùng lứa/ có ba không mồ/ Tôi có người ba chết trận/ bao nhiêu năm/ không mồ/ giỗ ông lần nào má tôi cũng khóc/ vừa thương ba/ vừa trách/ sao không để lại một nấm mồ/ làm chỗ/ cho cỏ lên" (Không mồ).

Trong bài thơ ngắn này, tác giả không chỉ nói về nỗi đau riêng của mình mà còn mở rộng sự chia sẻ với những người bạn cùng hoàn cảnh, những người không có cơ hội được chăm sóc mộ phần cho cha mình. Cả bài thơ được xây dựng trên cảm giác mất mát và sự thiếu thốn khi người cha không để lại mộ phần sau khi hy sinh. Câu thơ cuối của bài thơ cất lên như một tiếng khóc đau đớn, găm vào lòng người đọc khi giỗ ba "lần nào má tôi cũng khóc, vừa thương ba, vừa trách, sao không để lại một nấm mồ, làm chỗ, cho cỏ lên".

Với bài thơ này, tác giả đã khắc họa không chỉ nỗi đau cá nhân mà còn là nỗi đau chung của những gia đình có người thân hy sinh trong chiến tranh, những gia đình không có được sự an ủi từ một nấm mồ, không có một nơi để thờ cúng, để cất giữ nỗi nhớ về người đã khuất.

Chưa hết, trong một bài thơ khác, Mai Thìn vẫn bị ám ảnh xót xa, khắc khoải về sự mất mát và hy sinh của những người lính trong cuộc chiến khốc liệt này: "Má tôi làm ruộng ở Gò Bồi/ cùng quê với nhà thơ Xuân Diệu/ thời bao cấp má dệt chiếu/ lén lên vùng cao bán dạo/ những sợi cói mướt mồ hôi/ nuôi lận đận/ phận mồ côi đi học/ ba tôi mất khi má mới sinh con/ bát nhang chưa tàn trên bàn thờ không ảnh/ tiền tử sĩ không mồ đúc một cái chuông/ gửi trong tịnh thất/ đêm đêm gióng lên/ tiếng/ hai người đàn bà/ và đứa con chưa biết kêu ba/ hòa bình về/ cờ hoa tở mở/ nhà tôi vọng tiếng chuông/ nghi ngút/ rớt rơi/ bà nội ăn chay trường/ tiếng chuông cầu nguyện/ hồn chú tôi lạc ở chiến trường Quảng Ngãi/ nương theo mà về/ tấm bằng Tổ quốc ghi công/ hai cái chuông treo/ hai mộ phần/ gióng lên/ những giọt cầm hơi/ những giọt cầm canh/ nghe như thanh bình/ nghe như xa vắng" (Má tôi và những tiếng chuông).

Với những câu thơ giản dị mà sâu lắng kiểu này, có cảm tưởng mỗi câu thơ là một tiếng chuông, ngân vọng lên sự tưởng nhớ về những người thân đã ra đi mãi mãi trong chiến tranh, để lại nỗi mất mát không sao bù đắp được cho gia đình của họ.

Từ cánh đồng "tiểu tự sự" đến chân trời "đại tự sự"

Thơ của Mai Thìn vốn giản dị, câu chữ không óng ánh, chau chuốt, nó gần gũi, chân mộc như tiếng nói hằng ngày, như hơi thở đời thường vẫn bịn rịn, lặng lẽ thân thiết quanh ta. Tôi cho rằng, với 2 tập thơ "Tạ lỗi với mây xanh" và "Tiếng của thiên lương", Mai Thìn đã tìm được cho mình một giọng điệu trong trường mỹ cảm của thơ tự do, để đưa thơ hội nhập vào đời sống con người và xã hội hôm nay với những buồn, vui, hy vọng và ước mơ của những miền đất, miền người đang hồi sinh sau những mất mát, đau thương vì chiến tranh.

Thơ cần hướng đến đời sống để nâng cao con người -1
Bìa hai tập thơ của nhà thơ Mai Thìn

Dường như, thơ Mai Thìn luôn hướng đến đời sống xã hội, những phận người và hướng đến thiên nhiên sông núi đất nước mình, với những cảm xúc lớn lao trong các bài thơ như bài "Ngược sông Lô" viết về miền biên giới Hà Giang sau đây: "Ngửa mặt đón những tàn hoa/ nhuộm đỏ trời biên giới/ sông Lô làm một trường ca/ chảy vào đất Việt/ quấn quít từng dãy núi đá/ như tấm lá chắn/ chở che những người lính/ bao đời canh giữ biên cương/ soi vào sông Lô/ ngang trời lồng lộng/ mỗi tấc đất của cha ông/ chan máu xương/ lóng lánh nước trong/ ngược sông Lô/ năm nào cũng đông người lên/ đôi bờ/ hàng hàng gạo đỏ/ ròng ròng dòng sông/ hắt lên/ tháng ngày xanh thẳm/ ngược sông Lô/ vớt từng xác gạo/ như vớt những hồn người/ đỏ thắm".

Bài thơ ngân lên như một khúc hát trầm vang nơi biên ải, nơi từng diễn ra những trận chiến giữ nước bi hùng nhất trong chiến tranh biên giới, nơi "mỗi tấc đất của cha ông/ chan máu xương". Bài thơ như lắng lại trong câu kết với hình ảnh thật xúc động: "ngược sông Lô/ vớt từng xác gạo/ như vớt những hồn người/ đỏ thắm". Với những câu thơ không dễ viết này, Mai Thìn với ngôn ngữ thi ca của anh đã đi từ cánh đồng của những "tiểu tự sự" buồn, vui về những phận người để đến với chân trời rộng mở hơn của những "đại tự sự" gắn với non sông Tổ quốc.

Theo tôi, thơ trước hết, có lẽ phải mang đến sự xúc động và chia sẻ trong lòng người, Mai Thìn có nhiều bài thơ như vậy. Tôi khá ấn tượng về bài thơ anh viết về dòng tin nhắn cuối cùng xin lỗi mẹ của Phạm Thị Trà My, cô gái được phát hiện trong vụ 39 người chết trên xe container nhập cư lậu vào Anh ngày 23/10/2019.

Chỉ một dòng tin trên báo về bi kịch kinh hoàng xảy ra làm cho bao người đau đớn, trong đó có người thơ Mai Thìn với hình tượng "Bông hoa trong chiếc bình nước mắt" là tựa đề bài thơ anh viết về số phận nghiệt ngã của cô gái này: "Những ngày này/ cái tên Phạm Thị Trà My/ loan truyền khắp thế giới/ gương mặt như hoa của em/ từ trang nhất nhiều tờ báo châu Âu/ bay về Việt Nam/ cùng dòng tin nhắn/ xin lỗi mẹ vì con đường đi nước ngoài không thành/ con chết vì không thở được/ quê hương em/ thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh/ địa phương ven bờ biển Đông Bắc Việt Nam/ thêm lần nữa dậy sóng/ những con sóng xót xa/ cơn bão số năm đổ bộ vào miền Trung/ không át nổi dòng tin nhắn của em/ xoáy lốc tâm can bao người cha người mẹ/ oằn xoay/ trái đất này/ em bằng tuổi con gái tôi/ cái tuổi thích nghĩ khác, làm khác/ muốn tìm một con đường/ dù nguy hiểm, mơ hồ/ như cái thùng xe em đã không thở được/ từ nay/ tên em đã thành một bông hoa/ trong chiếc bình/ đựng đầy nước mắt".

Hình ảnh "Bông hoa trong chiếc bình nước mắt" là một phép ẩn dụ tinh tế, cho thấy nỗi đau và sự xót xa vô bờ bến. Bông hoa, vốn là biểu tượng của cái đẹp và sự sống, giờ đây nằm trong chiếc bình đầy nước mắt - nước mắt của gia đình, của những người thân yêu. Đây là một sự kết hợp của cái đẹp và nỗi buồn đau khôn cùng như một sự tưởng niệm, một lời tri ân cho những người đã mất và cũng là một lời nhắc nhở về sự mong manh của cuộc sống con người trên thế gian này.

Thơ của Mai Thìn thường kiệm lời, lấy đời sống làm tư liệu viết và giàu suy nghĩ, đấy là hướng đi anh đã chọn. Nhưng, vấn đề phải kết hợp hài hòa giữa cảm xúc thơ và ý tưởng cho mỗi tứ thơ, để có được những bài thơ hay vượt trội là cái đích mà anh nên hướng đến trong tập thơ tới và mong anh sẽ thành công.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).