Thì thầm bước chân

Trong văn hóa người Việt, nếu như đôi bàn tay thường được coi là tượng trưng cho khả năng lao động, sức lực và những đam mê thì đôi bàn chân hay hướng người ta đến những di chuyển, những sự vượt lên thử thách, không ngại khó khăn để chinh phục những gian khó, những đỉnh cao.

1.Tính vận động và hướng ngoại của đôi chân cao hơn đôi tay, vì thế mà không gian của đôi bàn chân cũng trở nên bát ngát hơn. Sự kết hợp hài hòa giữa tứ chi (hai tay và hai chân) tạo ra một khả năng tổng thể và toàn diện để một người bình thường có thể dễ dàng sinh hoạt và sáng tạo.

Trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đôi bàn chân được nói tới với ước mơ chinh phục, vượt lên ngoại cảnh và luôn chiến thắng, như trong câu ca dao của ngưởi Việt thuở xưa: "Trông trời trông đất trông mây/ Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm/ Trông cho chân cứng đá mềm/ Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng".

Trong thời kỳ chống Mỹ, đôi bàn chân của người lính được ca ngợi và hiện lên trong nhiều tác phẩm văn chương cũng như âm nhạc, thể hiện sức mạnh tinh thần to lớn của con người, sẵn sàng vượt qua muôn ngàn chông gai hiểm trở: "Ta vượt lên triền núi cao Trường Sơn/ Đá mòn mà đôi gót không mòn/ Ta đi nhằm phương Nam gió ngàn đưa chân ta về quê hương/ Quân về trong gió đang dâng triều lên" (Bước chân trên dải Trường Sơn - Nhạc và lời: Vũ Trọng Hối).

Những dấu chân ấy nối tiếp nhau cùng ra chiến trường, như là sự kế tục của lớp lớp người con đất Việt, lớp cháu con lại nối bước ông cha, quyết chiến đấu cho tới ngày toàn thắng: "Lối mòn như sợi chỉ giăng/ Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân/ Dấu chân ai đọc nên vần/ Nên nào ai biết đi gần đi xa/ Cuộc đời trải mút mắt ta/ Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường" (Dấu chân qua trảng cỏ - Thanh Thảo).

Đôi chân người lính có khi hiện lên trong những câu thơ thật rạng rỡ, phơi phới một bút pháp lãng mạn kỳ vĩ và tráng lệ: "Lớp cha trước lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành/ Anh đi xuôi ngược tung hoành/ Bước dài như gió lay thành chuyển non" (Tiếng hát sang xuân - Tố Hữu).

Dấu chân của tiền nhân còn trở thành nỗi biết ơn vô vàn trong lòng muôn thế hệ sau khi nhớ về Bác Hồ - người ra đi tìm đường cứu nước: "Dấu chân không nhẹ như mây/ Dấu chân không êm không ấm/ Dấu chân không là dấu nắng/ Mười ngón trăn trở bầm sâu/ Dấu chân của dáng đứng lâu/ Nặng hai vai là Tổ quốc (...) / Bác đã là người đi trước/ Khai rừng băng sông mở lối/ Cho tôi có cả cuộc đời" (Dấu chân phía trước - Nhạc: Phạm Minh Tuấn, Thơ: Hồ Thi Ca).

Khép lại chiến tranh, bước vào thời bình, tôi bắt gặp đôi chân lao động lam lũ vất vả, đôi chân trong cuộc mưu sinh tất bật hằng ngày, nhưng ở đó, sáng lên một lòng hy sinh vô bờ bến, dồn hết tình thương cho đứa con thân yêu: "Tôi muốn quên đi/ Đôi chân trần/ Cha đi lượm từng hạt thóc/ Cho con một bữa cơm chiều (...) Đôi chân cồng kềnh/ Cha đi giữa rừng hoang vu" (Đôi chân trần - Nhạc và lời: Y Phon).

Và đôi chân còn có thể gắn với những nỗi buồn hoang hoải của một kẻ lữ hành đang tìm một bờ bến cho cuộc đời mình. Vì thế mà mới có một bài thơ với tựa đề "Hát về đôi chân mỏi" của nữ thi sĩ Bình Nguyên Trang: "Đôi khi mệt quá tôi quỳ gối/ Mơ dáng người xưa trên lá vàng/ Đôi khi buồn quá tôi nhìn phố/ Trôi những loài hoa sắc dở dang/ Tôi thương đôi bàn chân lang thang/ Mười năm chưa đến nơi cần đến/ Người xa lỗi cũ thuyền đỗ bến/ Trước mặt đường ơi ngút ngát dài".

2. Phía trên, tôi chủ yếu nói đến bàn chân với khí chất mạnh mẽ của những người đàn ông, luôn xác lập một tư thế mạnh mẽ để lập thân, lập công danh khi bước vào đời. Còn đối với bàn chân người phụ nữ, hình như đó là một thế giới khác hẳn. Bàn chân người phụ nữ khi đi vào thơ ca dựng lại cho ta cả một trời mê ảo thướt tha.

Đôi chân giúp ta đi tới những ước mơ- Ảnh minh họa.
Đôi chân giúp ta đi tới những ước mơ- Ảnh minh họa.

Đó là những "bước đi thong thả hoàng cung" như khi Trịnh Công Sơn hồi tưởng về người con gái tên Diễm thuở nào: "nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não (...) Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì...".

Tôi tin những bước chân của một thuở ấy đã bước mãi vào trái tim, vào nỗi lòng của người nhạc sĩ tài danh, để sau này, nó hóa thành muôn hình nghìn trạng những cung bậc với bao nỗi vui buồn. Có khi là những bước chân cô đơn: "Trên bước chân em âm thầm lá đổ" (Diễm xưa), "Em qua công viên bước chân âm thầm" (Nắng thủy tinh), "Chìm dưới cơn mưa bàn chân nhỏ bé" (Chìm dưới cơn mưa).

Có khi là những bước chân khoan thai dìu dặt: "Đi nhẹ vào đời thì thầm gót chân" (Tôi ru em ngủ), "Một chiều kia có em nhẹ nhàng/ Đi không nhanh chân không vội vàng" (Níu tay nghìn trùng), "Ta nghe đời rất mênh mông. Trong chân người bước chậm chậm" (Cho đời chút ơn).

Và điều chắc chắn là, tất thảy những bước chân ấy bao giờ chúng mềm mại và thướt tha: "Những bước chân mềm mại, đã đi vào đời người. Như từng viên đá cuội, rớt vào lòng biển khơi" (Tình nhớ). "Tôi đưa em về chân em bước nhẹ, trời buồn gió cao" (Hạ trắng).

Hơn một lần, Trịnh đã gọi những bàn chân của của những người đẹp, người tình trong mộng ấy là chân ngà hoặc gắn với ngọc ngà: "Xin chân em qua từng phiến ngà/ Xin mây se thêm màu áo lụa" (Còn tuổi nào cho em), "Em đứng lên gọi mưa vào hạ. Từng cơn mưa từng cơn mưa từng cơn mưa, mưa thì thầm dưới chân ngà" (Gọi tên bốn mùa). Dường như khi bước chân của người đẹp đi đến đâu thì đất trời ưu ái đến đó, như khẽ nâng bước cho nàng để mỗi bước chân không bao giờ biết đến đớn đau thương tổn, để những bụi bặm của trần gian không chạm được vào nàng: "Đường dìu chân em đi đến những miền xa" (Tuổi đời mênh mông), dù những bước chân ấy có đôi khi giày xéo trái tim người: "Vì từng bước em là từng mũi đinh cuồng điên" (Tưởng rằng đã quên).

Khác với bàn chân nam giới, bàn chân người nữ đôi khi hiện lên chỉ cần qua một điểm nhìn: gót chân. Phụ nữ Trung Hoa thời xưa hay có tập tục bó chân từ bé để cho từ bàn chân đến gót chân hay ngón chân đều nhỏ nhắn, xinh đẹp, chân càng nhỏ lại càng đẹp. Những gót chân người đẹp khi đi vào thi ca cũng vậy: "Ru em hài nhung gấm, ru em gót sen hồng" (Ru tình - Trịnh Công Sơn), "Một thời yêu dấu đã qua/ Gót hồng em muốn quay về" (Đóa hoa vô thường - Trịnh Công Sơn).

Nhạc sĩ Bảo Phúc còn viết nguyên một bản nhạc với tựa đề "Gót hồng", biến gót chân người đẹp thành trung tâm của hình tượng và nguồn cảm hứng: "Gót hồng! Dịu dàng xoay giữa khung trời. Để sắc hương xô nghiêng dòng đời. Gót hồng! Nhẹ nhàng xoay theo lời hát. Cùng bước em rực cháy lên rạng ngời".

Từ một góc nhìn khác, bàn chân hay tổng thể là cả đôi chân luôn được xem là một trong những tiêu chí đánh giá vẻ đẹp hình thức người phụ nữ, vì thế mới có cụm từ "chân dài và đại gia" để chỉ những cô gái đẹp. Khoa Nhân tướng học cũng đánh giá cao yếu tố chân dài qua câu: "Trường túc bất tri lao" (Chân dài không biết mệt).

Trong thơ tình những năm gần đây, xuất hiện nhiều ý thơ táo bạo của những cây bút nữ liên quan đến miêu tả cặp chân. Yên Trang trong bài "Thơ xưa lục bát" (rút từ tập "Môi cong", NXB Hội Nhà văn, 2006) đã viết: "Thương người đêm ngóng đò đưa/ Thơ xưa lục bát em chưa có chồng/ Đêm dài hơn gió mùa đông/ Kéo lên úp mặt chân trông hơi người".

Ý thơ táo bạo ở cụm từ "chân trông hơi người". Không chỉ là nhớ hơi nhau như những câu thơ cổ của "Khóc Bằng Phi" mà đây là hai bàn chân nhớ hai bàn chân, hai cặp chân nhớ hai cặp chân. Mặt có thể sát mặt, tóc có thể sát tóc, ngực có thể sát ngực, môi có thể kể môi (như trong bài "Xa cách" của Xuân Diệu) song chân có thể sát chân mới là biểu đạt trần tục và lôi cuốn nhất của luyến ái mà Yên Trang đã khéo léo thể hiện được qua âm điệu của thể thơ dân tộc.

Vi Thùy Linh, ngược lại, thể hiện mạnh mẽ và dữ dội với những miêu tả nóng bỏng như thể một tuyên ngôn về tình yêu khai sinh và duy trì thế giới: "Những cặp chân khóa chặt nhau khước từ chân lý" (Anh ru em ngủ). Đôi chân của người nữ trong thơ họ Vy còn hiện lên trong nhiều câu thơ táo bạo khác, từ phần cao nhất có thể (đùi) đến phần thấp nhất có thể (gan bàn chân): "Chỉ cần anh gối lên đùi/ Mình ôm lấy anh ôm mình/ Biết sự bình yên của mặt đất" (Chân dung), "Ruỗi chân dài, em nối những ranh giới, những núi đồi, sông biển nhịp nhịp qua cầu đùi muốt/ Vào lúc Anh lên Em lên Anh/ Thụ tạo giấc mơ ấp ủ/ Em đạt khát khao làm mẹ" (Nơi ánh sáng), "Cái lưỡi mềm của anh nơi gan bàn chân em/ Làm thế giới hóa lỏng" (Sinh ngày 4 tháng 4).

 Tóm lại, những bàn chân của con người đã bước vào thế giới và từ đó khai sinh ra những thế giới khác theo cách của riêng mình, từ cuộc đời đến thi ca và âm nhạc. Chúng ta đi, chúng ta tiễn những bước chân đi và thầm mong biết bao những bàn chân nào đó sẽ trở về trong cuộc đời chúng ta: "Tôi đợi em về bàn chân quen quá/ Hàng lá me vàng lại bước qua...". (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui - Trịnh Công Sơn).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".