Thi sĩ của những người chân đất

Rất có thể ông Trần Văn Lý sẽ là một cây bút phê bình văn học ít được người đời biết tới nếu như không từng có lần ông gây "ồn" dư luận bởi một nhận định hết sức táo bạo: Xếp Chử Văn Long vào danh sách 5 nhà thơ lớn nhất Việt Nam thế kỷ XX, bao gồm: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Chử  Văn Long (Chử  Văn Long chứ không phải Chế Lan Viên).

Vẫn biết, việc sắp xếp ngôi vị trong làng văn hoàn toàn là quyền riêng của mỗi người, chẳng ai cấm đoán được ai, song cách sắp xếp nói trên của ông Trần Văn Lý - cho đứng "chung hàng" với các đấng bậc như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tố Hữu một người mà sức ảnh hưởng xã hội còn "khiêm tốn" hơn rất nhiều, và về tuổi tác lại chỉ thuộc hàng con cháu của họ thì quả là không được thuận chiều cho lắm. Nó không chỉ gây bất lợi cho ông Trần Văn Lý mà còn gây cho người mà ông cổ súy (cụ thể ở đây là nhà thơ Chử Văn Long) những mối bận tâm không đáng có.

Thực tế, sau khi cuốn sách "Cảm nhận thi ca" của ông Trần Văn Lý ra đời (sách do NXB Văn học ấn hành năm 1999), đã có nhiều lời tỉa tói nhằm vào nhà thơ Chử Văn Long. Thậm chí, trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, một tác giả còn quăng ra những lời thóa mạ, xúc xiểm nặng nề: "Không thể là nhốt một con đại bàng, một con phượng hoàng cùng với vài ba chú gà què chuyên ăn quẩn cối xay", khiến Chử Văn Long phải bức xúc viết thư ngỏ buộc tác giả nọ chứng minh "Ai trong những nhà thơ nói trên đã làm điều gì không tốt đẹp với đất nước này".

Không rõ từ cơ sở nào dẫn ông Trần Văn Lý tới cách sắp xếp trên, song tôi tin ông Lý là một fan của nhà thơ Chử Văn Long, cũng như tôi tin tiếng thơ của Chử Văn Long không phải không có sức hấp dẫn đối với những độc giả chân lấm tay bùn nếu họ có dịp tiếp xúc với thơ anh. Bài "Con ngựa buộc bên rào" được chú ý một thời chính bởi đã nói lên nỗi xốn xang yêu đời, một cách tán tỉnh vừa dân dã, vừa ý nhị của một chàng thi sĩ xuất thân là "trai quê":

Con ngựa buộc bên hàng rào
Cỗ xe cũng nằm cạnh đó
Cô em ở trong cửa sổ
Ngựa ai đã thắng yên cương. 

Mùa xuân đi dạo trên đường
Tôi qua trước nhà em ở
Chỉ tại cái gốc cây bàng
Mà tôi ghé vào bên cửa
Sau nữa tại vì con ngựa
Yên cương đã sắp sẵn rồi
Nên tôi muốn được em ngồi
Để tôi đánh xe rong ruổi… 

Lẽ nào cô em từ chối
Ngựa xe thì đã sẵn sàng
Và buổi chiều nay đẹp thế
Lòng nào không thấy xốn xang.

Khác với Nguyễn Bính, Chử Văn Long không trực tiếp lên tiếng kêu gọi con người quay về với sự "chân quê", song anh luôn thể hiện sự tự hào về gốc gác "nhà quê" của mình. Bài "Khúc hát đồng quê" của anh mở đầu bằng câu: "Anh hát em nghe khúc hát đồng quê/ Cho lắng lại vui buồn muôn thuở…". Bài "Tôi sống giữa những người chân đất" mở đầu bằng câu: "Tôi sống giữa những người chân đất/ Những người của nắng mưa thấm đẫm vui buồn/ Cả khi có dép rồi họ vẫn thích đi chân đất/ Chân đất đã quen, chân đất tự do hơn". Thông qua bài "Người dưng", anh muốn thể hiện nỗi đồng cảm sâu xa với những người chân lấm tay bùn sớm hôm tần tảo: "Người dưng gắn bó gì tôi/ Sao tôi thương giọt mồ hôi đầm đìa/ Suốt đời dậy sớm thức khuya/ Dáng đi chân vịt, chân le trên đường".

Thật đúng là thơ viết cho mình, cho người thân của mình, đọc lên nghe xót xa gan ruột. Nào ai dám nghĩ cái "Dáng đi chân vịt, chân le trên đường" ấy không gợi hình bóng tổ tiên, ông bà cha mẹ mình trong cuộc vật lộn mưu sinh vất vả bao đời nay? Nếu tác giả không thực sự "sống giữa những người chân đất", sẽ khó mà có được những câu thơ ngùi ngẫm, thấm thía đến vậy, cũng như khó có thể thốt lên được một câu hỏi đầy trắc ẩn: "Hỡi người dưng của tôi ơi/ Sao tôi không thể cùng người dửng dưng…"?

Bìa tập "Tuyển thơ văn chọn lọc" của nhà thơ Chử Văn Long.
Bìa tập "Tuyển thơ văn chọn lọc" của nhà thơ Chử Văn Long.

Ở trên tôi đã nhắc tới các bài "Con ngựa buộc bên rào", "Người dưng". Cùng với bài "Người gánh rơm đi vào thành phố" (giải nhì cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1981), đó là những thi phẩm ít nhiều từng được bạn đọc nhắc tới và góp phần làm nên tên tuổi Chử Văn Long. Ở đây, tôi xin dành thời gian nhiều hơn để nói về một bài thơ tuy ít được người đời để mắt tới nhưng theo tôi, đó mới chính là bài thơ hay nhất của Chử Văn Long. Bài thơ có tên "Mùa xuân chim én". Mở đầu bài thơ là một không khí sông nước rất khơi gợi:

Từng đàn chim én bay về
Mùa xuân bắt đầu trên sóng
Đố ai cầm được lòng mình
Mở với trời xuân cao rộng

Trước đây, trong thơ Nguyễn Duy từng có hình ảnh con chim lao nhanh như tên bắn (Con chim chả bắn mũi tên xanh biếc). Như vậy, Chử Văn Long không phải là người đầu tiên có liên tưởng những cánh chim (cụ thể ở đây là cánh én) vút lên trời xanh như những mũi tên, song bức tranh sau đây vẫn rất sống động, có sức hút đặc biệt:

Như là hàng ngàn mũi tên
Bắn lên vòm xanh thiêm thiếp
Nhưng không làm ai bị thương
Ở giữa mùa xuân tuyệt đẹp

Không chỉ cánh én trên trời, mà những con đò hờ hững thả mình dưới bến sông trong những ngày đông lạnh giá nay cũng muốn hòa theo cánh én mà lắc mình chao liệng chào xuân:

Bến sông vắng vẻ mọi ngày
Những con đò nằm mỏi mệt
Giờ nhìn theo cánh én bay
Như cũng lắc mình chao liệng.

Xuân đến với cảnh vật, rồi xuân đến với lòng người. Lại một lần nữa, tác giả đưa hình ảnh người nông dân "áo thô chân đất" xuất hiện giữa bức tranh thơ, bên cảnh bãi bờ ven sông sau mùa lũ, một hình ảnh rất đẹp và rất gợi. Ở đây, ta thấy niềm yêu thương trân trọng, sự thủy chung nhất mực của tác giả đối với những người lao động - anh muốn cho họ tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên trong những thời khắc chuyển mùa:

Bãi bờ sau mùa lũ ngập
Cờ ngô vẫy gió như rừng
Hỡi người áo thô chân đất
Qua đây lòng có rưng rưng.

Biết bao nhiêu nỗi xốn xang gợi lên từ hình ảnh cờ ngô vẫy gió, từ hình ảnh người nông dân "áo thô chân đất" phút thư thả đi thăm đồng bãi, nhìn trời ngắm đất mà rưng rưng, mà thấy mát gan mát ruột trước thành quả lao động của mình…

Tuy nhiên, nếu bài thơ được khép lại chỉ bằng những hình ảnh đó thôi thì sức hàm chứa của nó không lớn. Bài thơ đơn thuần cũng chỉ như một bức tranh xinh xắn, khơi gợi, được "vẽ" bằng một họa sĩ "khéo tay hay mắt". Nó mở rộng về không gian nhưng không có chiều sâu, sức nặng về thời gian. Với bốn câu kết chuyển mạch hết sức bất ngờ:

Nhưng rồi bỗng dưng vô cớ
Buồn theo trời nước mênh mang
Có con én nào năm trước
Năm nay vắng mặt trong đàn!

tác giả đã khiến người đọc không khỏi bùi ngùi. Không phải chỉ thương cho một cánh én nào đó đã không còn cơ hội xuất hiện cùng đàn, mà họ còn liên tưởng và thương cho những kiếp người đã rơi rụng dần mỗi độ xuân sang. Trời đất quay vòng nhưng trong vòng quay nghiệt ngã ấy, có phải ai cũng đủ sức bám trụ được đâu. Với khổ thơ này, tầm vóc của bài thơ được nâng lên nhiều. Nó đằm triết lý nhân sinh. Hãy cùng nghĩ lại về bài thơ "Sông Lấp" của cụ Tú Xương. Cái đặc sắc nhất, thể hiện tầm vóc nhất của bài thơ đâu phải ở những câu "Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai" mà chính là ở mấy câu: "Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò" đấy chứ. Bài thơ "Mùa xuân chim én" của Chử Văn Long, chỗ "sáng giá" nhất chính là khổ thơ cuối, thậm chí là ở hai câu kết: "Có con én nào năm trước/ Năm nay vắng mặt trong đàn". Chính cái cảm giác về sự "vắng mặt" ấy đã khiến người đọc thấy hiện diện đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất chân dung nhân cách của tác giả.

Mặc dù tiếng thơ Chử Văn Long có những nét hồn hậu, đáng yêu, và trong chừng mực nào đó anh cũng là nhà thơ có độc giả, song sòng phẳng mà nói, sự quá ư… thật thà của anh trong cách thể hiện suy nghĩ, cảm xúc ở nhiều bài thơ đã khiến anh dễ bị bạn bè trong giới… xem thường về "tay nghề", vì thế mà phần đặc sắc của anh nhiều khi đã bị "phủ lấp" một cách oan uổng. Đọc thơ Chử Văn Long, ta thấy rất nhiều câu được diễn đạt dễ dãi theo kiểu: "Làm thơ giờ sống ra sao/ Chẳng còn nhà xuất bản nào chịu in" (bài "Làm thơ giờ sống ra sao"), nghe như… vè vậy. Đấy là những bài anh giãi bày tình cảm. Ở những bài anh ngẫm nghĩ về thế sự, bàn luận về các đề tài liên quan đến những lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, càng thấy anh hổng hểnh về kiến thức, "quê mùa" trong cách phân tích, đặt vấn đề…

Trở lại với nhận xét ban đầu về phản ứng của một số người viết xung quanh việc ông Trần Văn Lý xếp nhà thơ Chử Văn Long đứng ngang hàng cùng các nhà thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tố Hữu. Theo tôi nghĩ, không phải những nhà thơ trên không từng có những bài xoàng xĩnh, thậm chí ở mức vè như Chử Văn Long đã viết, song những bài thơ hay của họ luôn thể hiện ở tác giả một tay nghề điêu luyện, một bút pháp cao cường (không như Chử Văn Long, ngay ở những bài thơ hay nhất của anh vẫn độn những câu, những chữ xoàng xĩnh, như mấy chữ "tuyệt đẹp" trong bài "Mùa xuân chim én").

Tất nhiên, không nên vì những hạn chế ấy mà ta để buột rơi những vần thơ giàu cảm xúc của Chử Văn Long…

Viết lần đầu năm 1993, bổ sung và hoàn chỉnh ngày 10/4/2012

Phạm Khải

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).