Nhà thơ Đặng Hấn:

Thấy trong toán có thơ

Phó Giáo sư Đặng Hấn năm nay đã ở tuổi 73. Độ tuổi ấy, thuở nào Nguyễn Công Trứ nắc nỏm "ngũ thập niên tiền nhị thập tam", còn bây giờ Đặng Hấn vẫn nhuộm tóc để đi dạy và làm thơ. Không khó khăn gì để nhận ra Đặng Hấn dung hòa hai đặc điểm: Sự thông minh, chặt chẽ của một nhà toán học và sự nhạy cảm của một người cầm bút!

Đặng Hấn có năng khiếu toán từ nhỏ, học phổ thông rất giỏi toán, vào đại học làm sinh viên khoa Toán, rồi ra trường công tác ở Viện Toán nhiều năm trước khi chuyển về giảng dạy tại Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.

Nhiều năm đứng trên bục giảng, Đặng Hấn trở thành chuyên gia đầu ngành với bộ môn xác suất thống kê. Những cuốn sách lý thuyết lẫn bài tập xác suất thống kê mà nhiều trường sử dụng, đều do Đặng Hấn biên soạn. Nói về lĩnh vực mà mình đang được trọng vọng trong tư cách một Phó Giáo sư uy tín, ông hóm hỉnh: "Bộ môn xác suất thống kê giống như một chiếc mi ni juyp của cô gái đẹp, nó gợi mở cho người ta nhiều ý tưởng hay ho, tuy nhiên vẫn giấu đi một cái gì rất cơ bản"!

Đầu óc nhanh nhẹn lại rất vui tính, Đặng Hấn luôn có những phản xạ gây bất ngờ cho người đối diện. Thời thư sinh, Đặng Hấn trông thấy một bông hoa rất đẹp, nên nảy sinh ý định hái tặng bạn gái. Có người phát hiện, đe: "Hái hoa làm gì, sao không để nó ra quả?". Đặng Hấn trả lời: "Nó là hoa đực mà!". Người kia tiếp: "Hoa đực thì để nó thụ phấn chứ?". Đặng Hấn chốt hạ: "Nó vừa thụ phấn xong rồi!". Chỉ một đoạn đối thoại trên, cũng đủ bộc lộ phẩm chất tếu táo tài tình của một nhà toán học giàu mơ mộng!

Phó Giáo sư, nhà thơ Đặng Hấn.
Phó Giáo sư, nhà thơ Đặng Hấn.

Đặng Hấn giỏi toán nhưng mê thơ. Khi học phổ thông vào những năm khốn khó, Đặng Hấn đã chép tay cả quyển "Thi nhân Việt Nam" để gối đầu giường mà nhâm nhi mỗi ngày. Khi học đại học, Đặng Hấn mê một cô gái Tuyên Quang xinh như hoa hậu, nên làm cả một trường ca hơn ngàn câu lục bát nhằm ca tụng nhan sắc của nàng và gửi gắm nhớ nhung của mình.

Mối tình đầu tan theo mây khói, Đặng Hấn đốt hết những trang thơ ướt át và chuyển sang làm thơ ngắn kiệm lời mạnh ý, kiểu như: "Chọn mùa bão táp chào đời/ Măng hình tên lửa vút trời bay lên". Và từ đó, Đặng Hấn đi giữa sự cẩn trọng của toán và sự mơ hồ của thơ, như chính ông thú nhận: "Tôi yêu toán và yêu thơ, vì vậy lúc nào cũng cảm thấy bận bịu và đang mắc nợ một việc gì đó. Đã có lúc tôi nghĩ: Nếu dồn cả cho thơ chắc sẽ có kết quả hơn, song tôi cũng biết ngay ý nghĩ đó là sai lầm. Thơ dù cho chỉ là một "trò chơi", nó lại là thứ "trời cho" không chỉ có thời gian là được. Làm thơ cho thiếu nhi càng rất khó. Nó vừa phải có tình hay, ý đẹp để người lớn "chịu" lại vừa nâng đỡ các em đức tính gì, giúp các em phát hiện điều gì, lại vừa phải "nhí nhố" cho các em thích, các em dễ nhớ…".

Đặng Hấn đã in gần chục tập thơ, hầu hết đều tặng, chứ chẳng bán buôn gì. Đặng Hấn bảo: "Vài đồng nghiệp tôi dạy luyện thi để in thơ, gọi là lấy thi nuôi thơ. Còn tôi chỉ đi dạy toán để in thơ, gọi là lấy toán nuôi thơ!".

Nhắc đến tài sản văn chương của Đặng Hấn, không thể không kể đến mảng thơ thiếu nhi. Chất toán cộng với chất thơ, lắm khi lại bật ra nét ngộ nghĩnh của thiếu nhi. Chẳng hạn, bài "Phép tính mùa xuân" khá thú vị: "Cánh én làm phép trừ/ Trời bớt đi giá rét/ Bầy chim làm phép chia/ Niềm vui theo tiếng hót/ Tia nắng làm phép nhân/ Trời sáng cao rộng dần/ Vườn hoa làm phép cộng/ Số thành là mùa xuân". Độc đáo hơn, Đặng Hấn là người đầu tiên văn bản hóa giá trị của cầu chữ Yở Sài Gòn: "Cầu nào cũng chữ I/ Nhưng chỉ là I ngắn/ Cầu quê em lạ lắm/ Giống hệt chữ Y dài" và nâng lên tầm khái quát: "Ô! Người đi trên chữ/ Chữ nâng người lên cao!". Từ hình dáng thực của cây cầu chuyển thành ý nghĩa của tri thức, đó là một đóng góp không thể phủ nhận của Đặng Hấn!

Bên cạnh tập thơ "Cầu chữ Y" được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987, Đặng Hấn còn có nhiều tập thơ viết cho trẻ em khác như "Những chuyện thần tiên", "Hoa thơm trái chín", "Sài Gòn của bé". Trong thơ thiếu nhi của Đặng Hấn, ngoài những câu giàu chất toán, vẫn có những câu giàu chất thơ, thí dụ vẻ đẹp của đôi mắt trẻ thơ: "Trong như nước, sáng như sao/ Mở ra là thực, khép vào là mơ".

Trong hồ sơ văn chương, Đặng Hấn tự bạch: "Họ tên: Đặng Hấn (tức Hận Đắng). Quê Thái Bình, sinh năm Nhâm Ngọ (1942), tốt nghiệp Đại học Tổng hợp năm Bính Ngọ (1966), lập gia đình năm Mậu Ngọ (1978) và vào Hội Nhà văn Việt Nam năm Canh Ngọ (1990)... Thì ra người này rất thích ngọ... nguậy!". Còn trong sáng tác, Đặng Hấn thổ lộ: "Tôi chẳng bao giờ quên mình là một nông dân. Mặc dù những thửa ruộng mà tôi canh tác từ lâu không nằm trên cánh đồng, mà nằm trong thư viện!".

Cá tính của Đặng Hấn phù hợp với loại thơ ngắn, nghĩ nhanh viết gọn. Đặng Hấn gọi thơ ngắn là "ngẫu cảm", và tỏ ra khá thành thục khi chuyển tải những điều quan sát được theo cách nhìn rất riêng, từ một sự vật cụ thể: "Tháp Eiffel nổi tiếng vì cao. Nổi tiếng về to là Kim Tự Tháp. Mỗi kỳ quan một cách nổi tiếng riêng. Như tháp Piza nổi tiếng chỉ vì… nghiêng", đến những mối quan hệ lắt léo: "Người đàn bà như ổ khóa. Căn nhà chắc chắn, đầm ấm nhờ ổ khóa tốt. Khóa nào chẳng cần chìa. Nhưng bất hạnh cho nhà kia: có ổ khóa mà chìa nào cũng mở được!".

Thơ Đặng Hấn mạnh về ý tứ hơn về ngôn ngữ. Nếu chịu khó đọc những câu thơ có phần trúc trắc và thô ráp của Đặng Hấn, chắc chắn sẽ cảm nhận được những điều thú vị. Nói đến nghề dạy học mà bản thân luôn thao thức "sợ tay cầm phấn cũng lem màu chàm", Đặng Hấn có nhiều ngẫu cảm như "Ai cũng là thầy ở một lĩnh vực nào đó. Và là học trò trong nhiều lĩnh vực của học trò mình", hoặc: "Dễ nhất: dạy người làm. Khó nhất: làm người dạy".

Phó Giáo sư Đặng Hấn có hai đặc điểm mà những ai chơi thân với ông đều phải thừa nhận. Thứ nhất, về hình dáng, ông luôn cao và gầy từ trẻ đến già. Thứ hai, về nội tâm, ông rất yêu thương và tôn thờ vợ. Vế đầu, ông giải thích bằng hai câu thơ: "Đừng hỏi nhà thơ sao xanh và gầy/ Máu của họ đã dùng làm thuốc tăng lực cho câu và chữ". Còn vế sau, ông giải thích bằng… rất nhiều bài thơ.

Đặng Hấn từng cưới vợ khi làm cán bộ ở Viện Toán, nhưng chẳng hiểu sao chỉ sau vài tháng sống chung thì đường ai nấy đi. Đấy cũng là một scandal trong giới cầm bút trẻ ở Thủ đô ngày ấy. Nhiều người gạn hỏi nguyên nhân, nhưng Đặng Hấn không hé nửa lời. Còn hỏi về hậu quả, thì Đặng Hấn hồi đáp đúng kiểu của mình: "Hai ông anh của tớ đã nhận được tin ly hôn trước tin kết hôn. Còn ông bố của tớ thì kêu lên: Con ơi quý hóa là con. Gửi thư như thể gửi bom về nhà!". Tất nhiên, ai cũng phì cười mà chẳng màng đụng chạm đến câu chuyện ấy nữa. Tuy nhiên, đối với Đặng Hấn, đó là một vết thương và ông xoa dịu cho mình bằng cách xin chuyển công tác từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh ngay khi đất nước vừa giải phóng. Ở mảnh đất phương Nam, Đặng Hấn đã gặp duyên mới. Người phụ nữ gật đầu làm vợ Đặng Hấn và sinh cho ông hai đứa con đủ nếp đủ tẻ, chính là… học trò của ông!

Đặng Hấn nói về sự kiện rước nàng về dinh: "Mình không chịu thiệt một ngày nào so với Luật Hôn nhân và Gia đình, bởi đến ngày cưới, cô ấy vừa tròn mười tám tuổi!". Vì vợ ít hơn mình vô số tuổi, nên Đặng Hấn rất nịnh vợ. Nịnh ra mặt, nịnh thường xuyên, nịnh mọi lúc mọi nơi. Đặng Hấn không chỉ tự hào về điều đó, mà còn viết hàng trăm bài thơ để nịnh vợ. Ban đầu Đặng Hấn khá suy tư khi làm thơ cho vợ: "Muốn làm thơ tặng em yêu/ Suy đi nghĩ lại, thêm nhiều đắn đo/ Báu vật thì giấu trong kho/ Khoe khoang chi để rước lo vào người!".

Ấy vậy mà ông vẫn liền tù tì làm bao nhiêu thơ tặng vợ, hết ngày này qua tháng khác. Bài "Ghen", Đặng Hấn viết: "Bạn bè rủ đi chơi xa/ Còn em trông nhà, có ngại ngần chi/ Nhưng rồi anh lại không đi/ Vì anh chợt nghĩ: em thì anh trông?". Thậm chí, khi "Cùng em đi dọc Trung Hoa", Đặng Hấn cũng không ngần ngại xưng tụng vợ: "Không phải nàng Mạnh Khương bơ vơ thuở trước/ Mà là em đứng tựa vai anh/ Thôi em đừng xôn xao nữa/ Kẻo ngực em che hết cả Trường Thành!".

Nếu phải chọn một bài thơ tiêu biểu của Đặng Hấn nịnh vợ, có lẽ là bài "Em nói về anh" thể hiện rõ nhất nét hài hước và đáo để của Đặng Hấn: "Em nói: Anh là trụ cột của gia đình. Là cây bách, cây tùng cho em nương bóng! Em nói: Không gia đình nào nhiều gieo neo vất vả như ta. Nhưng nhờ có anh rồi cũng qua được hết! Em nói: Em không thể tưởng tượng nổi, nếu nhà này thiếu anh… Chao ôi, thật khủng khiếp! Nhưng có một điều em biết. Hay biết mà em không nói. Là tất cả những khốn đốn, gieo neo mà anh đã đưa gia đình qua khỏi. Đều do anh gây ra!".

Sau nhiều năm dạy học miệt mài, Phó Giáo sư Đặng Hấn nghỉ hưu với một ngôi nhà vườn khá khang trang. Hôm tân gia, Đặng Hấn làm một bài thơ bốn câu, đặt tên "Thơ đề ở cổng" như sau: "Chó sủa to, không dữ/ Nhà rộng cửa, rộng lòng/ Vợ tôi là phụ nữ/ Vâng, tôi là đàn ông!".

Sài Gòn, 11/2015

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).