Tản mạn bên đồi thi nhân

Ở Việt Nam, thật hiếm có ngôi mộ của nhà thơ nào luôn có người đến thắp hương và cắm hoa như ngôi mộ của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Thời gian ngự trên dương thế của ông quá ngắn, vỏn vẹn 28 năm, nhưng ở đây, trên đỉnh Gành Ráng này, tôi như cảm thấy ông vẫn "Chiều chiều hiện hồn lên nhìn non nước", đúng như ước nguyện của ông ngày nào.

Tôi về thăm ông trong một ngày nắng vàng như mật ong. Đúng là nắng thơm như trong thơ ông... 

Chuyện về hai ngôi mộ

Ngôi mộ Hàn Mặc Tử (tên thật là Nguyễn Trọng Trí) trên Gành Ráng hiện do người trai của ông là ông Nguyễn Bá Tín bỏ tiền và xây cất lên từ năm 1959. Trong lúc xây mộ, gia đình còn bị gây khó và sau đó còn bị đồn thổi với dụng ý xấu là dưới mộ không có hài cốt của nhà thơ. Thậm chí, năm 1963, một số kẻ vô lại đã lên đập phá mộ làm sứt mẻ nhiều chỗ.

Cuối cùng mọi chuyện đã vãn hồi, nhất là vào năm 2008, trong dự án Fe stival Bình Định, mộ nhà thơ được chỉnh trang tu sửa rất đẹp. Ngôi mộ hình thành trước sự ngưỡng vọng của bao người yêu thơ ông. Vị trí an táng thật đẹp và nằm trong quang cảnh rất kỳ thú. Khi viết lời tựa cho tập "Thơ Hàn Mặc Tử", nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã viết: "Giờ đây Hàn Mặc Tử nằm trên một điểm cao Gành Ráng đối diện với Bể Đông, bể sáng chói như thơ Anh, và dông bão như thơ Anh".

Giờ đây, ở dưới đỉnh Gành Ráng là khu du lịch biển tuyệt đẹp với các bãi đá với những hình thù rất lạ mắt. 

Nhưng tôi lại nghe ông còn một… ngôi mộ nữa ở ngay tại trại phong Quy Hòa. Thấy lạ, tôi theo một người bạn ở Quy Nhơn đi tiếp vào trong phía núi dưới đỉnh Gành Ráng. Khi nhà thơ mất (năm 1940), người ta xây mộ cho ông như bao người khác trong nghĩa địa làng phong. Mãi 19 năm sau, gia đình ông mới di mộ ông lên Gành Ráng. Nhưng sao nơi đây vẫn còn một ngôi mộ của ông?

Ngắm kỹ, tôi cho đây là một biểu tượng kiến trúc hiện đại, với hình ảnh cây bút, trang sách và vầng trăng chứ không phải là một bia mộ. Đọc những dòng chữ trên bia khắc, mới hay đây là công trình do ca sĩ Nhật Trường cùng vợ là Nam Trân đầu tư, để tưởng nhớ đến một thi nhân mà họ vô cùng ngưỡng mộ. Ca sĩ Nhật Trường cũng đã từng sáng tác một ca khúc rất nổi tiếng về Hàn Mặc Tử. Riêng người vợ của ca sĩ  là nghệ sĩ Nam Trân đã lấy họ Hàn để làm nghệ danh khi biểu diễn với cái tên Hàn Nam Trân.   

Vậy nên chăng, tượng đài tưởng niệm nhà thơ trong trại phong Quy Hòa cần bỏ biển hiệu giới thiệu là mộ nhà thơ, để mọi người khỏi hiểu lầm.

Hàn Mạc hay Hàn Mặc?

Hiện nay, nhiều văn bản, sách và tài liệu còn được lưu trữ đã thể hiện một sự không nhất quán về bút danh của nhà thơ: Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử? Nếu nghĩ Mạc hay Mặc không quan trọng lắm, bởi trước đây nhà thơ cũng đã từng dùng hai bút danh này (như ý kiến của ai đó) thì quả là còn nhiều điều khó thống nhất trong nghiên cứu. Việc nhiều cuốn sách và bài viết về ông đến nay vẫn được song hành hai cái tên đã ít nhiều tạo nên sự lúng túng về độ chân xác của tác giả.

Như ta đã biết, cuốn sách đầu tiên viết về Hàn Mặc Tử của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Trần Thanh Mại có nhan đề là "Hàn Mạc Tử (1912-1940)", xuất bản năm 1941, tại Huế. Đặc biệt, khi ông Trần Thanh Mại bị nhà thơ Quách Tấn kiện về bản quyền xung quanh chuyện phổ biến thơ họ Hàn, cuốn sách này càng đắt hàng và được tái bản nhiều lần.

Tuy nhiên, sau đó, một số nhà xuất bản đã cho in những cuốn sách thể hiện mâu thuẫn với nhau về bút danh của nhà thơ. Thí dụ, năm 1997, Nhà xuất bản Văn học cho in cuốn "Đi tìm chân dung Hàn Mạc Tử", thì đến năm 2000, chính  nhà xuất bản này lại phát hành cuốn "Hàn Mặc Tử thơ và đời". Rồi đến năm 2006, lại Nhà xuất bản Văn học tái bản sách "Hàn Mạc Tử (1912-1940)" của Trần Thanh Mại… Cũng trong thời gian này, Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tập thơ với nhan đề "Hàn Mạc Tử - Thơ trữ tình". Ấy là chưa nói đến nhiều tài liệu khác cũng vẫn có sự không đồng nhất về bút danh của Hàn Mặc Tử.

Thậm chí, nếu ai đến Gành Ráng viếng mộ nhà thơ vẫn còn có biển chỉ dẫn đường lên mộ nhà thơ Hàn Mạc Tử, chứ không phải Hàn Mặc Tử. Mới đây, vào tháng 3-2011, trên Báo Bình Định có đăng bài viết của Lê Văn Lào ở Quy Nhơn, vẫn dùng cái tên Hàn Mạc Tử…

Vậy nên thống nhất ra sao đây?

Theo một số tài liệu, trong đó có câu chuyện tưởng như vui nhưng có sức thuyết phục sau đây: Ban đầu, Nguyễn Trọng Trí - tên thật của nhà thơ - dùng các bút danh như Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh. Tới năm 24 tuổi, khi vào Sài Gòn làm báo, phụ trách trang văn thơ của phụ trương báo Sài Gòn, ông mới đổi bút danh là Hàn Mạc Tử, với ý nghĩa là chàng trai đứng sau rèm, lạnh buồn và trống vắng. Chỉ ít lâu sau đó, được bạn bè gợi ý, để tăng thêm sức nặng của nỗi cô quạnh trước thiên nhiên, ông đã vẽ thêm vành trăng khuyết vào bức rèm. Theo tượng hình chữ Hán "Mảnh trăng khuyết" được đặt vào chữ "Mạc" thành chữ "Mặc" là vì vậy. Vậy bút danh Hàn Mạc Tử tác giả chỉ dùng trong một thời gian ngắn, còn lại toàn bộ những tác phẩm sau này đều mang tên Hàn Mặc Tử.

Dù đó chỉ là giai thoại, nhưng việc dùng một bút danh cũng nên có sự thống nhất trên mọi cấp độ thông tấn, trước khi phổ biến tới bạn đọc.

Những nhan sắc tình mộng

Cũng giống như cái bút danh, Hàn Mặc Tử còn là đề tài cho nhiều loại hình nghệ thuật khai thác với nhiều bi tình sử, từ chuyện lãng mạn cho đến kinh dị trong phim, nhạc, kịch và hội họa. Đặc biệt là mối quan hệ của thi sĩ với các nàng thơ, những nhan sắc hiện hữu hoặc kể cả những người đẹp trong mộng tưởng.

Ngoài hai người đẹp là Mộng Cầm và Mai Đình; một là phụ tình, còn một là lụy tình và đều là nguồn cảm hứng cho những áng thơ tình đầy phiêu linh và đằm thắm của nhà thi sĩ, còn có hai giai nhân mà thi sĩ mộng tới nhưng không được, và đó đã trở thành nguồn thi hứng đặc sắc và được kết tinh trong những vần thơ nổi tiếng của ông. Đó là Hoàng Cúc và Thương Thương. Riêng với người đẹp Hoàng Cúc thì nhiều người biết, Hàn Mặc Tử cũng chỉ  thầm yêu trộm nhớ, đơn phương sầu muộn, vấn vương. Trong tập thơ "Gái quê" của thi sĩ, xuất bản năm 1936, có một số bài thể hiện cảm xúc với người đẹp này. Phải vài  năm sau, Hoàng Cúc mới hay tình cảm của nhà thơ đối với mình. Đó là khi nàng được tặng tập thơ và đã theo gia đình rời Quy Nhơn về Huế. Hoàng Cúc gửi thư cảm ơn và hỏi thăm sức khỏe của Hàn Mặc Tử, vì lúc này ông đã lâm trọng bệnh. Vậy mà cảm xúc nhà thơ vẫn chan chứa khi đọc thư của người đẹp. Ngay trong đêm đó, nhà thơ đã viết bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" tặng nàng. Bài thơ này đã trở nên nổi tiếng và được xếp vào số những thi phẩm hay nhất của ông.

Nhưng kỳ lạ hơn là trường hợp yêu qua ảnh với mộng tình đầy liêu trai của thi sĩ với cô nàng Thương Thương trong những năm cuối đời. Số là, sau khi mối tình say đắm thật sự của Hàn Mặc Tử với nữ sĩ Mộng Cầm bị tan vỡ, nhà thơ suy sụp tinh thần. Thấy bạn mình quá đau khổ, ông Trần Thanh Địch đã bịa ra những bức thư của một giai nhân tên là Thương Thương (vốn là một học sinh trường Đồng Khánh ở Huế), gửi cho Hàn Mặc Tử, với mục đích giải tỏa sự cay đắng trong lòng nhà thơ khi bị Mộng Cầm bỏ rơi.

Thực ra, Thương Thương chỉ là một có bé 12 tuổi, cháu gái nhỏ của chú Địch, đóng vai một cô gái viết thư để an ủi nhà thơ. Tuy nhiên, nội dung thư chỉ bày tỏ sự mến mộ tài thơ của Hàn Mặc Tử và mong có sự trao đổi thư từ học hỏi cùng những hẹn hò bâng quơ mà thôi. Không ngờ nhà thơ như được vỗ về. Ông quên dần hình bóng của Mộng Cầm và chuyển hướng sáng tác thơ cho người đẹp Thương Thương, mặc dù chưa hề gặp mặt.

Mộng tình này quả là đã an ủi được nhà thơ. Nhiều sáng tác của ông trong thời gian này đã thực sự thăng hoa. Năm 1940, Hàn Mặc Tử đã viết trọn một tập thơ với tiêu đề "Thương Thương". Sống trong cơn bạo bệnh, nhà thơ vẫn vọng tưởng đến tình yêu trong mộng của mình: 

Chiều nay tàn tạ hồn hoa
Nhớ Thương Thương quá xót xa tâm bào…

(Bài "Nỗi buồn vô duyên").

Hay trong một số bài thơ khác ông không ít lần nhắc đến tên người đẹp, kiểu như:

Bây giờ đây khóc than niềm ly hận
Hỡi Thương Thương người ngọc của lòng anh…

Thời kỳ này, bút lực của Hàn Mặc Tử sung mãn hẳn với một tập thơ và hai tập kịch thơ. Trong đó có những câu tuyệt bút để lại cho đời như:

Một mai kia, ở bên khe nước ngọc
Với sao sương, anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm…

(Bài "Duyên kỳ ngộ")

Lời kết

Đúng là giờ đây cố nhân đã nằm bên khe nước ngọc. Khi quay lại Gành Ráng, tôi mới hay, mình phải bước lên cầu qua khe nước ngọc mới lên cùng thi sĩ để ngắm toàn bộ thành phố và biển Quy Nhơn. Và mỗi sáng mai lên, ngày mỗi ngày, lại có người lên đồi thi nhân để tưởng nhớ đến thân phận mỏng manh của con người tài hoa bạc mệnh và để an ủi ông như chính ông đã yêu thương con người: "Ta sống mãi với trăng sao gấm vóc/ Trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay…"

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).