Làm thơ là "đặt cọc" tình cảm, sự rung động buồn vui của mình với thế thái nhân tình. Đã "dính" chút nghiệp cầm bút, "máu" văn chương, nhà thơ Đỗ Văn Luyến cũng tự tìm cho mình một cơn cớ, lý do để mà đắm đuối, dấn thân. Không phải ngẫu nhiên trong bài thơ lấy tên "Thơ", anh viết:
Dẫu mai đây xác thân vùi dưới cỏ
Hồn vẫn xanh như trời biếc trên đầu
Những trang thơ có tan vào cát bụi
Tình người còn thắm thiết tận muôn sau
Vậy thì đã rõ, sự "khắc khoải" day dứt giữa cái hữu hạn (xác thân) và cái vô hạn (hồn vẫn xanh) đã làm anh suy tính, tự vấn mình: Cái công việc đang làm (trang thơ) có giúp ích gì cho cuộc sống hiện tại và tương lai, khi mà tình người là điều cốt lõi cần gìn giữ, nâng niu.
Mỗi bài thơ, câu thơ mà anh gửi tới bạn đọc qua các tập đều không phụ lòng anh. Ở đó mỗi rung động, mỗi trải nghiệm anh đều như muốn nói một điều: "Tình người còn thắm thiết tận muôn sau".
Tình người ấy ngay cả khi trong hoàn cảnh ngặt nghèo, khó ai hình dung được, có thể là đơn phương, có thể là mơ hồ, mà anh vẫn hy vọng tự nhắc nhủ mình:
Niềm vui khó nói đủ lời
Tâm tư thầm kín gửi người trong mơ
Biết ai còn đợi, còn chờTrái tim nắng hạn bao giờ gặp mưa?...
("Thầm thì" - Trăng soi bến nước)
Cũng có khi là một điều tác giả mới "ngộ" ra sau một lần "trở về quê", trở lại tuổi thơ:
Vui gì cũng động lòng sâu
Buồn nào mà chẳng làm đau bến bờ
("Chiều trôi" - Trăng đồng làng)
Hay khi một mình anh tự độc thoại :
Mảnh mai sợi bạc trên tay
Vẫn nghe cuồn cuộn tháng ngày bão giông
Mai này về với hư không
Ta mang tiếng nấc liệm trong cõi người
("Sợi bạc" - Trăng đồng làng)
Hay khi mang trên vai "Gánh đời" mà bạn đọc cũng phần nào cảm nhận những nỗi niềm xót xa, gian khó mà anh chịu đựng và muốn giãi bày:
Ta ngồi dưới bóng chiều rơi
Hoàng hôn buồn tím khung trời mờ xưa
Gánh đời hai nửa nắng - mưa
Đã quen giá lạnh sao chưa ấm lòng?
("Gánh đời" - Làng bên sông)
Đại thi hào Nguyễn Du từng viết: "Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh". Vậy thì, mong muốn cũng mãi chỉ là mong muốn mà thôi, nhất là với thi nhân. Tôi khắc khoải cùng anh nỗi niềm "giá lạnh" cũng như "chưa ấm lòng" ấy. Và tôi cảm nhận thêm từ những câu thơ anh viết như để an ủi mình :
Bây giờ chỉ một mình thôi
Cô đơn trước những trang đời bão giông
Bây giờ thương khóc dòng sông
Nước trôi biền biệt mà không bến bờ
("Bây giờ" - Đôi bờ sông trăng)
Hình như sông cũng già hơn
Miệt mài chở nặng vui buồn đất quê
("Hoàng hôn" - Làng bên sông)
Đã qua chớp bể mưa nguồn
Chỉ mơ chạy giữa lối mòn ngày xưa
("Mơ về ngày cũ" - Làng bên sông)
Cái tình người cứ đắm đuối, day trở và quấn quýt trong mỗi vui buồn, xúc cảm của nhà thơ Đỗ Văn Luyến như vậy đấy. Bạn yêu thơ qua mỗi tập thơ sẽ tìm thấy nhiều ký thác qua những bài thơ anh bày tỏ tình cảm với quê hương, người thân, thế sự và cả những éo le của cảnh đời.
Tôi chỉ muốn chia sẻ cùng anh những bài viết về số phận rủi ro của người con trai và éo le của hai cháu nội yêu quý. Ở trong nỗi niềm ấy, chỉ người trong cuộc mới thấu cảm, mới đắng đót:
Lệ khô mà chẳng cạn lời
Chỉ mong nước mắt ấm nơi con nằm?
("Lòng này con có thấu chăng?" - Đôi bờ sông trăng)
Mưa tầm tã, phũ phàng trên ngôi mộ
Bố lo nước dâng ướt chỗ con nằm
("Đêm mưa" - Tiếng ve mùa phượng)
Phải gắng sống thay phần bố cháu
Ông… mồ côi nuôi cháu mồ côi
("Mồ côi" - Trăng soi bến nước)
Nhưng cũng từ đau xót, tiếc thương ấy, anh lại tìm thấy những điều cao cả mà rất đỗi bình dị, thiêng liêng của tình phụ tử, ruột rà:
Chỉ biết mai sau gặp nơi chín suối
Theo kiếp luân hồi, bố lại sống cùng con…
("Đêm mưa" - Tiếng ve mùa phượng)
Các tập thơ của nhà thơ Đỗ Văn Luyến có điểm chung: Các bài thơ đều sắp xếp theo dòng chảy thời gian từ xa đến gần, từ tình cảm chung đến tình cảm riêng trong mỗi nỗi niềm, suy tư. Bởi thế, bạn đọc dễ tiếp cận một cách hệ thống.
Mong nhà thơ Đỗ Văn Luyến tiếp tục giữ được cảm mến của bạn đọc, giữ được những rung cảm chân thành như sứ mệnh của thơ ca mà anh đã tự nhắc nhủ bản thân:
Câu thơ thấm nỗi đời mặn chát
Xin được lau khô những giọt sầu!
("Nỗi đời" - Gió reo ngoài bãi).
Hà Nội, mùa thu 2012