Sức thuyết phục của kinh tế thị trường định hướng XHCN

Từ khi lý luận về “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam đến nay, đã có nhiều ý kiến trao đổi, thậm chí bác bỏ, phê phán.

Nhưng các thành tựu phát triển đất nước trong các năm qua đã chứng minh lý luận mang tính chất chỉ đạo này là lựa chọn đúng, là phù hợp với mục đích của cách mạng Việt Nam, phù hợp với con đường đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn.

Trong một số cuộc trao đổi học thuật và trên một số diễn đàn, nhiều người cho rằng kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) chưa có tiền lệ trong lịch sử, khó tránh khỏi sai lầm, vấp váp, nên phải “dò đá qua sông”. Có người thì nói, kinh tế thị trường mang giá trị phổ quát của nhân loại, không cần thiết phải thêm “cái đuôi” XHCN. Thậm chí có ý kiến cho rằng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và KTTT không thể dung nạp lẫn nhau nên gắn KTTT với CNXH là khiên cưỡng… Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không tranh luận về học thuật, mà chỉ đề cập đến các vấn đề thực tiễn trong quá trình phát triển của đất nước, và sự tiếp nhận của cuộc sống người dân, sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với KTTT định hướng XHCN.

Trước hết, đối với Đảng ta, CNXH không phải một giáo điều xơ cứng mà chính là nhu cầu của cuộc sống. Ngay từ khi tìm đường cứu nước, Hồ Chủ tịch đã chọn Quốc tế III và Người nói, sở dĩ Người có sự lựa chọn này vì Quốc tế III đề cập đến con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức. Người nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu” (Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, Tập 1, H.1993, tr.94). Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ mong muốn và nhận thức đó, cũng là mong muốn và sự nhận thức của cả dân tộc ta trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chủ tịch nói một cách giản dị về mục tiêu của cách mạng : “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm” (Hồ Chí Minh toàn tập - Tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, H.2000, tr.62). Có thể nói lời của Bác Hồ đã đưa ra chấm phá đầu tiên về mục tiêu của KTTT định hướng XHCN, bởi xét đến cùng thì không có kinh tế thị trường thì người đủ ăn khó có thể “khá giàu”, người giàu khó có thể “giàu thêm”. Và đặc biệt, không có định hướng XHCN, thì chắc chắn người nghèo khó có thể “đủ ăn”. 

Từ sự vận hành của nó, KTTT tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi người, bình đẳng về cơ hội và bình đẳng trước rủi ro, tức là cơ hội để thành đạt ngang nhau, và nếu có tai biến thì việc chịu rủi ro cũng ngang nhau. Trong cơ hội ngang nhau đó, ai nhạy bén nắm bắt được cơ hội thì trở nên giàu có, ai không nắm bắt được cơ hội thì nghèo vẫn hoàn nghèo; ai biết lo xa đề phòng rủi ro người ấy giữ được thành quả, ai không đề phòng được rủi ro người ấy có thể trắng tay. 

Để bảo đảm KTTT vận hành đầy đủ, không thể không có nhà nước pháp quyền với hệ thống luật pháp minh bạch xây dựng trên tinh thần pháp trị, ở đó mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Nhưng khi trong xã hội còn những người yếu thế, người bất hạnh không thể tự mình vươn lên nắm bắt cơ hội,… thì cần có chính sách thích hợp để họ không bị thiệt thòi, không bị bần cùng hóa. Nhà nước tư bản phương tây vẫn tỏ ra quan tâm tới các nhóm yếu thế thông qua chính sách an sinh xã hội. Nhưng việc họ áp dụng mức thuế cao, vay nợ để thực hiện “công bằng xã hội” xét đến cùng không dành cho các thành phần yếu thế bất hạnh mà chủ yếu phục vụ tầng lớp trung lưu với mục tiêu sâu xa là thu hút phiếu bầu. Điều này là kết quả tất yếu của nền dân chủ với thể chế đa nguyên, đa đảng luôn bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, và các chính sách được ban hành thường là sự thỏa hiệp giữa các nhóm đa số có thế lực, khó có thể đáp ứng lợi ích các nhóm yếu thế, thậm chí còn xâm phạm lợi ích chính đáng của các nhóm này. Công bằng xã hội chỉ là trên danh nghĩa, thực tế là nhà nước phình to ra song tình trạng bất công vẫn diễn ra gay gắt. 

KTTT định hướng XHCN vẫn hội đủ các yếu tố của KTTT, nhưng có các thiết chế để bảo vệ các nhóm yếu thế, tạo điều kiện cho họ vươn lên tiếp cận các cơ hội của thị trường, giúp họ đối phó với các rủi ro nghiệt ngã mà tự họ không có khả năng đối phó. Trong bối cảnh cụ thể ở nước ta, các nhóm yếu thế này chính là đông đảo nhân dân lao động, cùng những người bất hạnh, các gia đình bị thiệt thòi do phải hy sinh xương máu và của cải cho sự nghiệp giành độc lập dân tộc, nông dân ít ruộng đất, người nghèo, người lao động có thu nhập thấp... Và việc quan tâm đến lợi ích của họ là thực hiện điều Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”.

Trong một thời gian dài (miền Bắc sau 1954, cả nước từ 1975 đến giữa thập niên 80 của thế kỷ trước) chúng ta áp dụng kinh tế kế hoạch hóa, và một số người đã phê phán, coi đó là cơ chế kinh tế đã để lại một số di hại với quá trình phát triển đất nước. Tuy nhiên, trước khi phê phán lại cần nhớ rằng, kinh tế kế hoạch hóa được áp dụng trong bối cảnh hai cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài và cuộc cấm vận kinh tế tai ác kéo dài nhiều năm sau năm 1975; hơn thế nữa, chính kinh tế kế hoạch hóa đó đã bảo đảm hậu cần cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và thắng lợi của các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam, đồng thời duy trì được tiềm lực của đất nước đủ sức vượt qua cấm vận, khủng hoảng để sau năm 1986 có thể hồi sinh nhanh chóng. 

Phê phán kinh tế kế hoạch hóa phải đặt trong bối cảnh lịch sử đó, nếu không sẽ không hiểu vì sao Đảng ta đã khởi xướng, tổ chức, lãnh đạo công cuộc Đổi mới và Đổi mới từ đâu tới. Đổi mới không phải là một lý thuyết “nhập cảnh”, không phải do “sức ép” bên ngoài mà là sự đáp ứng yêu cầu từ sự chuyển động nội tại của đất nước. Không phải ai khác, chính những người cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc Đổi mới, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế KTTT định hướng XHCN. Không phải bắt đầu từ Nghị quyết Đại hội VI, mà từ trước đó rất lâu, những mầm mống của KTTT đã được những người cộng sản chân chính nuôi dưỡng, khuyến khích ngay trong “gọng kìm” kế hoạch hóa. 

Chúng tôi gọi “gọng kìm” kế hoạch hóa vì cơ chế tập trung quan liêu đã ăn sâu vào cấu trúc xã hội, thành định chế, thành nếp nghĩ, muốn tháo bỏ không hề dễ dàng. Các đảng viên cộng sản đã phải thực hiện “khoán chui”, phải “vượt rào” để thoát rào cản về cơ chế. Giữa lúc đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc bị phê phán gay gắt do thực hiện “khoán chui” ở Vĩnh Phúc, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đến thăm và động viên ông

(1). Nhiều Bí thư Tỉnh ủy, được sự hậu thuẫn của các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Trung ương Đảng, đã “vượt rào” xóa ngăn sông cấm chợ, xóa bao cấp, bảo vệ cách làm ăn mới ở cơ sở, mở đường cho sự vận hành của thị trường theo quy luật của nó. Nghị quyết Đại hội VI đánh dấu sự chuyển biến căn bản trong toàn Đảng, hướng kinh tế cả nước vận hành theo cơ chế thị trường. Như vậy, Đảng ta không khư khư “công thức” của CNXH theo truyền thống quốc tế, mà thực hiện CNXH theo Tư tưởng Hồ Chí Minh với mục tiêu: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm” với phương châm “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”.

Để đảm bảo định hướng XHCN đạt tới mục tiêu, trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta, doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Có không ít ý kiến bài bác hoặc tranh cãi tư biện về sự chủ đạo này. Trong khi về đường lối và trong thực tiễn, chúng ta có một lộ trình giảm thiểu số lượng doanh nghiệp Nhà nước bằng nhiều hình thức thích hợp, như: cổ phần hóa và giao, khoán, bán, cho thuê. Thực tế số doanh nghiệp Nhà nước đã giảm rất mạnh theo lộ trình và theo các hình thức đó. 

Chủ trương của Đảng và Nhà nước là chỉ giữ lại 100% vốn Nhà nước tại một số ngành kinh tế trọng yếu và những ngành mà tư nhân chưa đủ khả năng tham gia, như doanh nghiệp công ích, với mục đích bảm đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, an ninh kinh tế và giữ vai trò điều tiết để ngăn ngừa bất ổn, khủng hoảng kinh tế, cũng là để bảo vệ sự an lành môi trường làm ăn, cuộc sống của mọi người dân. Đó là ý nghĩa của vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước. Vai trò này hoàn toàn không ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Phương châm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động kinh tế là: nhà nước chỉ làm những gì người dân không làm được, nói cách khác, Nhà nước đã và sẽ lùi dần khỏi các lĩnh vực mà người dân và các thành phần kinh tế khác có thể làm. Việc cổ phần hóa một số ngành có liên quan đến an ninh quốc gia như hàng không, an ninh năng lượng như xăng dầu,… mới đây là nằm trong xu hướng đó.

Yếu tố quan trọng nhất của định hướng XHCN trong KTTT của chúng ta là vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò của Nhà nước pháp quyền XHCN. Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc, Đảng không có lợi ích của riêng mình. Bởi vậy, sự lãnh đạo của Đảng là sự đảm bảo để loại trừ các nhóm lợi ích chi phối quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, đó là sự bảo đảm cho sự hiện hữu của tinh thần pháp trị. Trong Nhà nước pháp quyền XHCN của chúng ta, các đạo luật được ban hành không phải là kết quả của quá trình vận động và thỏa hiệp giữa các nhóm lợi ích chi phối cơ quan lập pháp, mà xuất phát từ nhu cầu phát triển đất nước và lợi ích phổ quát của người dân, trong đó có lợi ích của các nhóm yếu thế, nghĩa là không có chính sách hoặc đạo luật nào phục vụ cho lợi ích của người giàu mà đánh mất cơ hội của người nghèo.

Thực tế cho thấy hơn 30 năm vận hành của KTTT định hướng XHCN đã tạo ra sự phát triển ngoạn mục của đất nước. Công cuộc Đổi mới nhanh chóng đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, duy trì tốc độ tăng trưởng vào hàng cao trên thế giới. Năm 1988 quy mô GDP chưa tới 5,5 tỷ USD, GDP đầu người chỉ đạt 86 USD; đến năm 2016, GDP đã đạt 205,32 tỷ USD, tăng hơn 37 lần, GDP đầu người đạt 2.215 USD, tăng gần 27 lần so với năm 1988, rút ngắn đáng kể khoảng cách thu nhập so với các nước trong khu vực. 

Theo dữ liệu so sánh của Ngân hàng thế giới (WB), năm 1990 GDP bình quân đầu người của Thái Lan là 1.508 USD (tính tròn), con số tương ứng của Việt Nam là 98 USD, khoảng cách chênh lệch tới 15,3 lần. Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người của Thái Lan lên 5.815 USD, con số tương ứng của Việt Nam là 2.111 USD, khoảng cách rút ngắn còn 2,7 lần. Với Philippines năm 1990, GDP bình quân đầu người cao gấp 7,3 lần so với Việt Nam (715 USD/98 USD), khoảng cách này đến năm 2015 còn chưa tới 1,4 lần (2.904 USD/2.111 USD). Với Ấn Độ năm 1990, GDP bình quân đầu người cao gấp 3,8 lần so với Việt Nam (375 USD/98), đến năm 2015 Việt Nam đã vượt Ấn Độ (2.111 USD/1.593 USD)

(2). Thành tựu ngoạn mục nhất là công cuộc xóa đói giảm nghèo: năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước chiếm tới 58%, đến cuối năm 2016 đã giảm chỉ còn 8.38% (theo chuẩn nghèo mới)

(3). Theo dữ liệu so sánh của Ngân hàng phát triển châu Á - ADB, tỷ lệ người nghèo so với dân số của Việt Nam năm 2015 ở mức 9,8%, thấp xa so với con số tương ứng của Philippines (25,2%), Ấn Độ (21,9%), thấp hơn cả Thái Lan (12,6%), Indonesia (11,3%)

(4). Đây không phải là những con số tuyên truyền của Việt Nam về tính ưu việt của KTTT định hướng XHCN, mà là sự ghi nhận rất khách quan của cộng đồng quốc tế. Dĩ nhiên, KTTT định hướng XHCN của Việt Nam còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện để thị trường có thể vận hành nhịp nhàng, đồng bộ với sự lựa chọn con đường phát triển, từ đó thúc đẩy nhanh hơn quá trình “người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm” như mong muốn của Bác Hồ. Tuy nhiên, các kết quả trên đây cho thấy, việc trao đổi (thậm chí là phê phán) lý luận về KTTT định hướng XHCN là cần thiết, nhưng trao đổi như thế nào thì vẫn cần tránh xu hướng tư biện, coi nhẹ kết quả, thành tựu từ sự vận hành của lý luận đó trong thực tiễn../.

1. Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 4-4-2017.

2. Tài liệu của WB, và tính toán của tác giả.

3. Tài liệu từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

4. ADB: Chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986)

Trương Minh Tuấn

Các tin khác

Sức mạnh của nhân dân- từ Điện Biên Phủ đến khát vọng vươn mình của dân tộc

Sức mạnh của nhân dân- từ Điện Biên Phủ đến khát vọng vươn mình của dân tộc

72 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, lịch sử không chỉ nhắc nhớ về một chiến công quân sự “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, mà còn gợi mở một chân lý có giá trị xuyên thời đại: sức mạnh quyết định vận mệnh của dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chỉ nằm ở vũ khí hay tiềm lực vật chất, mà nằm ở lòng dân, ở khối đại đoàn kết toàn dân tộc và ở ý chí độc lập, tự cường được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, nhanh hơn, "xanh" hơn và bền vững hơn

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, nhanh hơn, "xanh" hơn và bền vững hơn

Kinh tế Việt Nam được đánh giá là điểm sáng hiếm hoi trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và tăng trưởng toàn cầu chậm lại. Kinh tế Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ đất nước thống nhất đã đạt những thành tựu vượt bậc, mang lại nhiều lợi ích cho người dân thụ hưởng, cũng như khẳng định vị thế, tầm vóc đất nước trên trường quốc tế.

Bước chuyển mạnh của Quốc hội đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Bước chuyển mạnh của Quốc hội đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia ngày càng trở nên cấp thiết. Một trong những điểm nhấn nổi bật thời gian qua là việc Quốc hội từng bước chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế.

Giữ cho “trong ấm, ngoài êm”

Giữ cho “trong ấm, ngoài êm”

Thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước (1945-1975) là một trong những chiến công chói lọi nhất của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước. Giành được những thành tựu, thắng lợi to lớn đó là sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó lực lượng CAND có sự đóng góp xứng đáng.

Tiếp nối ngọn lửa ngày Đại thắng, vững bước tới tương lai rạng rỡ

Tiếp nối ngọn lửa ngày Đại thắng, vững bước tới tương lai rạng rỡ

Đại thắng ngày 30/4/1975 không chỉ khép lại cuộc chiến tranh trường kỳ, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên CNXH của dân tộc Việt Nam. Đó là dấu mốc lịch sử không thể thay thế, là điểm tựa tinh thần để cả dân tộc bước vào hành trình kiến thiết, dựng xây đất nước trong hòa bình. Nhưng lịch sử chưa bao giờ dừng lại.

Nghị quyết của Quốc hội giải quyết hàng nghìn dự án đất đai khó khăn, vướng mắc tồn đọng, kéo dài

Nghị quyết của Quốc hội giải quyết hàng nghìn dự án đất đai khó khăn, vướng mắc tồn đọng, kéo dài

Hiện có 4.489 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc với tổng quy mô diện tích sử dụng đất hơn 198.428,1 ha và tổng giá trị mức đầu tư là 3,3 triệu tỷ đồng đã được các bộ, ngành, địa phương trong cả nước thống kê tính đến ngày 30/3/2025, nếu sớm được vận hành thì đây sẽ là nguồn lực rất lớn của nền kinh tế.

Nhiều nước trên thế giới đã thống nhất về giới hạn của bí mật nghề nghiệp

Nhiều nước trên thế giới đã thống nhất về giới hạn của bí mật nghề nghiệp

Bí mật nghề nghiệp của luật sư là một nguyên tắc cốt lõi của tư pháp hiện đại, nhưng không phải là giới hạn tuyệt đối. Khi tội phạm ngày càng được chuẩn bị tinh vi và có tổ chức, nhiều quốc gia đã thiết lập ranh giới rõ ràng: bảo vệ quyền bào chữa, nhưng không để nguyên tắc này bị lợi dụng để che chắn cho hành vi phạm tội. Đề xuất sửa đổi Bộ luật Hình sự của Việt Nam vì thế không nằm ngoài xu hướng chung đó.

Tăng cường trách nhiệm người bào chữa nhằm phòng ngừa tội phạm

Tăng cường trách nhiệm người bào chữa nhằm phòng ngừa tội phạm

Cơ quan soạn thảo đã đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng thu hẹp phạm vi miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với luật sư, người bào chữa nhằm cân bằng giữa đạo đức nghề nghiệp, nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư với trách nhiệm bảo vệ an toàn xã hội và ngăn chặn tội phạm từ sớm, từ xa. 

Đảm nhiệm đồng thời hai chức danh – một bước đi tất yếu

Đảm nhiệm đồng thời hai chức danh – một bước đi tất yếu

Trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi điều chỉnh về tổ chức bộ máy đều nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả các cơ quan quyền lực nhà nước. Chỉ những thay đổi phản ánh đúng yêu cầu khách quan của việc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước mới có ý nghĩa bền vững.

Phát triển "kinh tế bạc" là mở ra một cách tiếp cận mới trong quản trị quốc gia

Phát triển "kinh tế bạc" là mở ra một cách tiếp cận mới trong quản trị quốc gia

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, phát triển "kinh tế bạc" càng trở nên cấp thiết. Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh ở châu Á. Theo dự báo, đến khoảng năm 2036, nước ta sẽ chính thức bước vào giai đoạn “xã hội già”, khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm trên 20% dân số.

Kiện toàn tổ chức bộ máy và kỳ vọng chương mới rực rỡ của đất nước

Kiện toàn tổ chức bộ máy và kỳ vọng chương mới rực rỡ của đất nước

Kiện toàn tổ chức bộ máy hôm nay mới là bước khởi đầu. Hành động quyết liệt, hiệu quả vì mục tiêu vừa kể mới là thước đo cuối cùng. Một khi lời nói đi đôi với việc làm, khi cam kết được hiện thực hóa bằng kết quả, thì niềm tin chắc chắn sẽ được củng cố, động lực chắc chắn sẽ được nhân lên; và con đường phía trước - dù còn nhiều thách thức, vẫn sẽ rộng mở để đất nước vững bước tiến lên, kiến tạo và viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hành trình phát triển.

Thống nhất vị trí người đứng đầu Đảng và Nhà nước tạo sự thông suốt trong tư duy lãnh đạo

Thống nhất vị trí người đứng đầu Đảng và Nhà nước tạo sự thông suốt trong tư duy lãnh đạo

Chiều 7/4, bên hành lang Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, đại biểu Quốc hội đoàn TP Hà Nội Bùi Hoài Sơn đã trao đổi với Báo Tin tức và Dân tộc về việc Quốc hội bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 - 2031 và những kỳ vọng đối với việc nâng cao hiệu lực lãnh đạo, điều hành trong giai đoạn mới.

Kiên định “bốn nguyên tắc” góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững

Kiên định “bốn nguyên tắc” góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa XIV diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, hướng tới thực hiện thành công mục tiêu chiến lược gắn với hai cột mốc lịch sử 2030 và 2045. Tại phiên bế mạc hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu quan trọng, mang tính định hướng chiến lược, nhấn mạnh thực hiện tăng trưởng hai con số để “không lỡ nhịp với thời đại”: “Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất”.

Phải truy xuất được nguồn gốc của miếng thịt là yêu cầu cấp bách

Phải truy xuất được nguồn gốc của miếng thịt là yêu cầu cấp bách

Vụ việc 300 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả lợn châu Phi được tuồn ra thị trường, thậm chí vào các trường học đã gây bức xúc trong dư luận. Sự việc xảy ra cho thấy, đã có sự buông lỏng quản lý, “đứt gãy” trong cơ chế giám sát theo chuỗi, từ khâu kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và giám sát lưu thông.

Kiên định “bốn nguyên tắc” – Chìa khóa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”

Kiên định “bốn nguyên tắc” – Chìa khóa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”

Khi “Bốn nguyên tắc” được triển khai đồng bộ trong giáo dục và đào tạo, các nhà trường sẽ góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng CAND, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Kiểm soát quyền lực - “then chốt của then chốt” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Kiểm soát quyền lực - “then chốt của then chốt” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Lịch sử phát triển của mọi Nhà nước đều cho thấy: quyền lực nếu không được kiểm soát sẽ có xu hướng bị tha hóa, và một khi quyền lực đã bị tha hóa thì hậu quả không chỉ dừng lại ở tham nhũng, tiêu cực, mà còn làm xói mòn niềm tin của nhân dân, suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.

Bài 2: Xăng sinh học - Đột phá chiến lược trong chuyển đổi xanh

Bài 2: Xăng sinh học - Đột phá chiến lược trong chuyển đổi xanh

Thay vì kế hoạch sẽ triển khai xăng sinh học E10 (pha trộn 10% ethanol) vào tháng 6/2026, Chính phủ đã quyết định đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng E10 ngay từ tháng 4/2026. Theo các chuyên gia, đây không chỉ là giải pháp tình thế trước những biến động của thị trường năng lượng thế giới, mà còn là một bước đột phá chiến lược trong chuyển đổi xanh. 

Giữ nghiêm kỷ cương để bảo vệ niềm tin và mở đường phát triển

Giữ nghiêm kỷ cương để bảo vệ niềm tin và mở đường phát triển

Công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà còn là điều kiện nền tảng để giữ vững ổn định, củng cố niềm tin xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển đất nước.