Sức đề kháng văn hoá đang suy giảm?

Đến hầu hết các cổ tự ở miền Bắc có may mắn được đầu tư trùng tu, đại tu, người quan tâm đến văn hóa đều có cảm giác khó chịu vì những mất mát tương tự. Đi từ Hà Nội về Bắc Ninh, Bắc Giang, từ xa người ta đã dễ dàng nhìn thấy những tháp chuông đứng nghễu nghện trên đỉnh núi, cao hơn núi, những mái đao như chọc vào mắt. Bằng cái nhìn tôn trọng sự hài hòa, người ta thấy ngay những kiến trúc mới hoành tráng này đã và sẽ "đả kích" mạnh mẽ phần cảm thức Việt vốn dĩ coi trọng sự khiêm nhường, hòa hợp, cân bằng với tự nhiên...

Nói về nghệ thuật kiến trúc và trang trí của người Việt, từ năm 1919, trong bài viết "Mỹ thuật ở Huế" đăng trong tập 16, Tạp chí "Đô thành hiếu cổ" (BAVH), một nhà nghiên cứu uy tín người Pháp, giáo sĩ dòng Thừa sai Paris L.Cadière đã có nhận xét xác đáng: "Người An Nam dường như chẳng bao giờ có những dự kiến to lớn. Những cung điện nguy nga, những đền thờ đồ sộ vẫn thường nằm ngoài ý niệm của họ, và cũng như nằm ngoài tầm phương tiện của họ. Nhưng các ngôi chùa nhỏ, các ngôi nhà thấp tối của họ lại được trang trí công phu. Những nóc khuyết, trụ cột, lối ra vào, bình phong và dày đặc mẫu thức trang trí với màu sắc rực rỡ, đôi khi lòe loẹt, nhưng vẫn hài hòa với sắc màu phong cảnh, với sức chói chang của ánh sáng…".

Một thế kỷ sau, dường như những nhận xét "xác đáng" đó đã… hoàn toàn sai. Những năm gần đây, khi đời sống kinh tế đang khá dần lên, đâu đâu người ta cũng đua nhau xây chùa, dựng đình, kiến tạo nhà thờ họ tộc theo xu hướng cái xây sau to hơn, nặng hơn, đắt hơn cái xây trước. Bất thành văn, một trong những mục tiêu được ưa chuộng của các công trình kiến trúc mới này là tiến đến giành cho được chữ "nhất'" trong cái gọi là "kỷ lục Guinness Việt Nam". Thực tế là đã có hàng trăm kỷ lục được xác lập. Song đáng buồn, văn hóa Việt nhìn từ phía kiến trúc, mỹ thuật lại hầu như chẳng tăng thêm được bao nhiêu giá trị từ những kỷ lục đó mà ngược lại, đang có xu hướng nghèo đi. Bởi lẽ, nhường chỗ cho những công trình mới to lớn, đồ sộ, sặc sỡ, hoành tráng, hàng loạt di sản "nhỏ bé, cũ kỹ, ẩm mốc" đã bị loại bỏ không chút đắn đo, tạo thành những sai lầm không thể cứu vãn.

Nhân Đại lễ nghìn năm Thăng Long, đền Lý Bát Đế (đền Đô), nơi thờ 8 đời vua Lý ở Từ Sơn, Bắc Ninh đã được đầu tư rất nhiều tiền của để trùng tu. Quả là sau khi mang diện mạo mới, đền đã đón được một lượng khách thập phương thăm viếng đông hơn hẳn. Nhưng, khách lạ thỉnh thoảng mới có dịp ghé - như tôi chẳng hạn - sẽ mất hứng thú đến thêm lần nữa. Đền Bát Đế bây giờ hoành tráng quá, sặc sỡ quá, hiện đại quá, thiếu hẳn vẻ cổ kính, tĩnh mặc vốn dĩ đầy sức quyến rũ đối với khách hành hương. Đi cùng tôi, họa sĩ Nguyễn Đỗ Nghĩa ở Hà Nội, khách quen của đền thì thất vọng vì không tìm đâu ra vẻ u mặc, linh thiêng mà anh bảo là "đầy chất hội họa". Trước cửa đền là một cặp hộ pháp hào nhoáng bằng đá to đùng đứng rất hùng dũng. Đáng tiếc, nó chỉ to và nặng, dọa con nít thì phù hợp, nhưng giá trị mỹ thuật thì dưới con mặt của họa sĩ Nghĩa là bằng 0. Ông Thiện hay ông Ác thì cũng như nhau, tay khuỳnh khoàng như bị bẻ lật, ngắn tũn. Nếu không đòi hỏi cao về mặt sáng tạo, chỉ nhìn theo tỉ lệ tả chân (mà tả chân thì không biết người ta dựa vào nguyên mẫu nào) thì rõ ràng cặp hộ pháp này sai hoàn toàn so với tỉ lệ giải phẫu học - một yếu tố bắt buộc trong nghề điêu khắc. Trong khi đó, vì nhỏ bé, cũ kỹ, cặp ngựa đá hàng trăm năm rất đẹp, đầy tính nghệ thuật trước đền đã bị người ta bứng đi đâu mất. Lý do biện minh được đưa ra là: cặp hộ pháp là vật phẩm cúng dường, vật cúng thế nào thì phải để nguyên thế ấy (để khỏi mất lòng). Còn sự biến mất của cặp ngựa đá, dù đã dò hỏi, chúng tôi vẫn không tìm được lời giải thích. Rất có thể, chúng - được xem như phải bỏ đi vì đã lỗi thời - đang nằm trong bộ sưu tập cổ vật của một đại gia nào đó - người đã cung tiến vào đền một hoặc vài món đồ sộ, phù phiếm và… vô tích sự nào đó.

Những công trình cổ đang xuống cấp. Việc trùng tu tiềm ẩn những nguy cơ làm mất bản sắc văn hoá của công trình.
Những công trình cổ đang xuống cấp. Việc trùng tu tiềm ẩn những nguy cơ làm mất bản sắc văn hoá của công trình.

Đến hầu hết các cổ tự ở miền Bắc có may mắn được đầu tư trùng tu, đại tu, người quan tâm đến văn hóa đều có cảm giác khó chịu vì những mất mát tương tự. Đi từ Hà Nội về Bắc Ninh, Bắc Giang, từ xa người ta đã dễ dàng nhìn thấy những tháp chuông đứng nghễu nghện trên đỉnh núi, cao hơn núi, những mái đao như chọc vào mắt. Bằng cái nhìn tôn trọng sự hài hòa, người ta thấy ngay những kiến trúc mới hoành tráng này đã và sẽ "đả kích" mạnh mẽ phần cảm thức Việt vốn dĩ coi trọng sự khiêm nhường, hòa hợp, cân bằng với tự nhiên. Ngay cả kiến trúc của Trung Quốc, nặng cảm thức Hoa Hạ tự tôn, tự cao tự đại, tự xem là trung tâm vũ trụ, người ta cũng chẳng bao giờ xây chùa cao hơn núi.

Không gian văn hóa điện thờ cổ kính đặc sắc của chùa Phật Tích có từ ngàn năm, bây giờ chỉ còn lại một khoảnh sứt mẻ được lồng kính, lọt thỏm giữa la liệt hàng trăm pho tượng La Hán mới toanh, được sơn phết lòe loẹt. Khuôn viên ngoại cảnh cũng được làm mới triệt để. Những phiến đá lót đường, lót bậc thềm tạo tác thủ công làm nao lòng khách thập phương hàng trăm năm qua đều đã biến mất. Thay vào đó là những phiến đá chế tạo hàng loạt, gia công, cưa xẻ, mài bóng đều bằng máy, giống nhau như đúc, vô hồn nhưng bóng loáng. Phụ hòa thêm vào sự "mất thiêng" là một chiếc bảng nhắc nhở kẻ bằng máy tính trên giấy A4 được treo ngay hành lang của điện thờ: "Nơi linh thiêng, đề nghị quý khách đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên". Hy vọng duy nhất: Đó chỉ là sản phẩm vô ý của một chú tiểu hiếu động, nghịch ngợm nào đó, không phải là chủ kiến của nhà chùa!

Không chỉ trùng tu, sửa chữa làm hỏng hồn Việt, những công trình xây mới hoàn toàn cũng mang khuynh hướng ngày một rời xa các giá trị văn hóa truyền thống. Chùa Bái Đính đồ sộ ở Ninh Bình mang kỷ lục "chùa có nhiều tượng La Hán nhất Việt Nam" nhưng sức quyến rũ của nó e khó có thể so sánh với chùa Bái Đính cũ tọa lạc cách đó không xa, có quy mô và số lượng công trình khiêm tốn hơn nhiều.

Vào miền Nam, công trình "du lịch tâm linh" Đại Nam Văn Hiến ở Bình Dương cũng khiến du khách ngán ngẩm. Sự đồ sộ, đầu tư lớn và công phu với những công trình to tát như biển nhân tạo, hòn giả sơn to nhất, thành quách đồ sộ nhất… không làm cho du khách bớt khó chịu bởi phải "chiêm bái" quá nhiều sự nhố nhăng. Người khác thế nào không biết, riêng tôi, tôi sẽ không chấp nhận được việc phải thắp hương, quỳ lạy một cách thành kính giữa điện thờ đồ sộ được gọi là "cửu huyền thất tổ" gồm từ vua Hùng Vương cho đến nội ngoại họ… Huỳnh của ông chủ công trình.

Điểm chung trong các công trình… phi nghệ thuật mà chúng tôi vừa đề cập là chuyện thừa giấy vẽ voi của những nhà đầu tư thừa tiền nhưng thiếu hiểu biết về văn hóa. Văn hóa tôn trọng một đặc tính phổ quát: tính đa dạng. Giá trị văn hóa không phải là sự cạnh tranh hơn thua, không nhằm đạt đến sự hơn nhất. Bởi lẽ, những công trình được gọi là "nhất", là  kỷ lục về quy mô của hôm nay, chẳng bao lâu sẽ cũng bị phủ nhận và tụt hạng bởi một công trình "nhất" khác đi sau nó. Không nói đâu xa, cho dù đồ sộ, to tát đến mấy, những công trình thành quách lâu đài của chúng ta cũng chỉ mới xứng tầm mô hình so với những công trình cùng loại của anh bạn láng giềng Trung Quốc. Dường như không mấy "nhà đầu tư" chuộng lập kỷ lục chịu nhìn rõ điều đó. Khuynh hướng chạy theo kỷ lục, chạy theo những điều to tát đang nở rộ, đẩy văn hóa ngày một xa các giá trị. Hàm lượng sáng tạo trong các công trình mới rất thấp, bởi hầu như chúng đều được tiến hành theo một công thức duy nhất: sao chép và phóng to, độ cực đại được đo bằng khả năng tài chính của nhà đầu tư hoặc nhà tài trợ, không hề mang dấu ấn của văn hóa và nghệ thuật. Hầu như ở địa phương nào cũng có những công trình thừa tiền, nghèo văn hóa như vậy.

Cho dù khiêm tốn về chiều kích, ít ỏi hơn nhiều về mặt đầu tư, các di sản như kinh thành Huế, thành nhà Hồ, phố cổ Hội An, chùa Một Cột, các Tháp Chàm cổ hay quần thể thánh địa Mỹ Sơn vẫn là những công trình vô giá, đầy niềm tự hào Việt khiến du khách, các nhà nghiên cứu văn hóa phải trầm trồ, thán phục. Điều đó đã được khẳng định vững chắc bởi sự trường tồn của chúng với thời gian, được UNESCO ghi nhận là Di sản văn hóa thế giới. Giá trị văn hóa của chúng không nằm ở sự hơn nhất (và không cần thi thố, cạnh tranh với ai) mà nằm ở sự khác biệt. Đó là những sáng tạo có một không hai, mang đậm cảm thức Việt, văn hóa Việt, phô bày đậm nét kỹ thuật Việt, ghi dấu đặc sắc các yếu tố kỹ thuật - nghệ thuật đặc trưng của thời đại đã sinh tạo ra chúng

Nguyễn Hồng Lam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).