Rưng rức miền cao

Giao mùa xuân hạ, tôi có chuyến đi xa. Một chuyến đi dài, cũng gần 10 ngày rong ruổi núi non nhưng biên viễn địa đầu rộng lớn quá, thời gian lưu lại với những miền đất miền người chỉ như muối bỏ bể. Thì đây, đã đang trong lòng Hà Giang mà vẫn mông lung, mà vẫn hoang mang, không thể nào chạm đến.

Có đặt chân lên biên viễn Đông Bắc mới thấu cái rợn ngợp nơi trời thấp đất cao. Địa hình nơi đây không có nhiều đất, lổm nhổm đá xám, điệp trùng đá tôn nhau lên, vời vợi... Tôi đã đi nhiều cung đường ở Hà Giang, thường thì một bên núi một bên vực. Núi cao vòi vọi, núi dựng thẳng đứng. Vực sâu hun hút, sâu đến lộn ruột. Nhìn từ trên xuống, con đường ngoằn ngoèo như sợi chỉ rối, hùng vĩ đến lạnh sống lưng. Có những đoạn đường đất đá lổn nhổn, lở lói, ốm nhom khiến 2 xe máy tránh nhau phải cẩn trọng đến toát mồ hôi. Chắc hẳn nhiều phượt thủ sẽ nhớ đời khi nhắc đến Mã Pí Lèng, dốc Chín Khoanh, cổng trời Quản Bạ, dốc Thẩm Mã, dốc Bắc Sum, dốc Đường Thượng…

Rưng rức miền cao -0
Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng có độ cao khoảng 1.470 mét so với mực nước biển.

Nhắc đến Đường Thượng, tôi lại nhói tim.

Là bởi ngay trong chuyến đi, tôi đọc báo và biết được hung tin: cô giáo miền xuôi 13 năm xung phong cắm bản gặp nạn tang thương trên đường cõng chữ lên với trẻ vùng cao sau kỳ nghỉ 30/4 và 1/5. Trời đất tuần hoàn, tôi vẫn đinh ninh, tháng Tư lịm dần để tháng Năm nhú chồi, vậy mà… Cô giáo mãi nằm lại đó, dưới đáy vực mờ sương. Vụ tai nạn khiến chồng cô, cũng là một giáo viên nặng nợ với học sinh Đường Thượng - Yên Minh bị đa chấn thương, phải cắt bỏ một bên thận, đối diện với thập tử nhất sinh. Rồi đứa con gái 4 tuổi cũng bị xây xát mình mẩy, một cú sốc đầu đời quá lớn, như trái núi vỡ.

Đôi vợ chồng giáo viên trẻ còn có một cháu trai 10 tuổi, chẳng đặng đừng phải gửi ông bà nội ở quê nuôi dạy vì không thể mang theo cắm bản. Gia đình gặp nạn, những tổn thương về xương thịt rồi cũng sẽ dần kín miệng nhưng vết sẹo tinh thần thì không biết đến bao giờ mới có thể xóa mờ. Và rồi, ai dám chắc núi sẽ thôi đau, sẽ thôi thổ huyết!

Có lên với địa đầu Hà Giang mới biết, con đường gieo chữ quá đỗi gian nan, quá nhiều hiểm nguy rình rập. Nhưng với tình yêu thương, chỉ có tình yêu thương vô bờ mới chuyển hóa thành động lực thiêng liêng để các thầy cô một lòng cắm bản. Ngoài tình yêu thương, tôi tin, tuyệt nhiên không có bất cứ một thứ gì khác có thể nắm níu được bước chân họ ở lại với vùng cao đầy rẫy hiểm nguy, khốn khó, thiếu thốn trăm bề như thế. Chợt nghĩ, sự nghiệp trồng người, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… rất cần được quan tâm và tôn vinh hơn nữa.

Riêng tôi, nếu không được đi nhiều, không đến với núi, không hòa vào núi, thì những gian nguy kể trên có lẽ đã vượt xa sức tưởng tượng khi mà vòng quay cơm áo cứ mãi cuốn hút vào bòng bong phố thị đèn màu.

Vậy nên khi đến với núi, xin đừng lướt qua, xin hãy lắng lòng nhìn thật sâu để thấy núi đau. Tôi đã nhìn thấy nhiều ngọn núi thổ huyết, huyết núi phủ lên phận người, đau đến nhói buốt tâm can, dai dẳng đến mấy thế hệ. Không đau sao được khi mỗi mùa mưa bão, những miền cao đây đó lại có người bị nhà đổ, nước cuốn, đất lở, núi vùi… với biết bao nước mắt, biết bao máu đỏ và vành tang trắng.

Trên cao nguyên khát, muốn có cái ăn phải đổ mồ hôi, rất nhiều mồ hôi. Mồ hôi rơi xuống đá xám, ngấm vào đá xám, làm mềm đá xám. Rồi từ đó mà vạc đá, xẻ đá để trỉa ngô; xới đá trồng tam giác mạch và các loại rau. Nhờ sức người, nhờ kiên gan bền chí mà trên đá mọc lên nhung nhúc màu xanh.

Tôi tạm dừng bữa cơm trưa, dõi theo cậu trai người Mông tên Dế múa khèn giữa trái tim Đồng Văn. Giai điệu của núi rừng chân chất mà vang vọng, tiết tấu giản đơn nhưng ngấm ngầm gợi nhớ xa xăm. Là cái tên, là tiếng khèn, hay là gì mà tôi vẫn mông lung kiếm tìm nơi miền xanh? Có lẽ, tôi cũng đang loay hoay với chính mình, loay hoay với nhớ thương rất thật nhưng chưa một lần chạm thấu. Núi nọ biển này, và em - đường chân trời, vừa thật gần vừa quá xa xôi.

Nắng chiều tiếp tục ruổi rong. Từ Đồng Văn qua Mèo Vạc là một cung đèo. Đi trên “sống mũi ngựa” - Mã Pí Lèng, có nhiều đoạn đường, nhiều khúc cua tay áo đang trải sức người bồi đất vạc đá để mở rộng tầm nhìn, cũng là để thu hẹp hiểm nguy.

Rảo bước trên cung đèo này, tôi nghĩ ngay đến lớp lớp thanh niên xung phong thời kỳ 1959 - 1965 của thế kỷ trước, dùng ý chí và sức người để mở đường Hạnh Phúc. Thời ấy, hơn 1.300 nam nữ phơi phới thanh xuân của 8 tỉnh Nam Định, Hải Dương, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang tình nguyện ăn bờ ngủ bụi cùng khoảng 1.000 dân công thuộc 16 dân tộc anh em trên cao nguyên khát, quyết tâm phải nối liền giao thông từ Đồng Văn qua Mèo Vạc, suýt soát gần 200km với địa hình một bước lên trời một bước xuống vực. Không đếm xuể bao nhiêu mồ hôi và nước mắt đã đổ xuống để đắp xây con đường huyền thoại.

Rưng rức miền cao -1
Những đứa trẻ miền cao Hà Giang.

Nay, bia đá chứng tích còn lưu những con số hằn sâu khổ ải. Là 2.246.321 ngày công. Là 2.899.638 mét khối đất đá đào đắp. Là 42 cây cầu và 392 chiếc cống các loại… Hết thảy đều làm thủ công, chỉ có sức người và dụng cụ thô sơ như búa tạ, xà beng, cuốc xẻng, xe cút kít… Thống kê như thế để mỗi người tự tưởng tượng, tự hình dung lấy bằng trải nghiệm, bằng vốn sống và cả lòng biết ơn.

Sực nhớ, quá nửa trăm năm sau ngày khánh thành đường Hạnh Phúc, mãi đến cuối xuân 2016, đó là lần đầu tiên tôi được đi trên con đường huyền thoại thuộc quốc lộ 4C với những vòng xe cảm phục. Con đường trải máu và hoa. Ròng rã 6 năm nghiệt ngã, 14 thanh niên xung phong mãi mãi nằm lại trên đá xám. Một lần nữa, câu nói của đại văn hào Lỗ Tấn lại vang lên trong tôi, rằng “trên mặt đất vốn làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Hẳn vậy, mọi thành tựu trên cuộc đời này không tự dưng sẵn có, mà chính do con người kiên gan bền chí, khổ ải để tạo nên.

Miên man thế nào, tôi chợt nghĩ đến “Chuyện của Pao” với âm sắc buồn như những triền sương xám. Phải rồi, là đàn môi. Tiếng đàn môi cứ quẩn quanh, vấn vít đâu đây. Tiếng đàn môi dội vào núi hoặc cũng có thể vạch núi bước ra, đậu trên những đôi má sơn nữ riu ríu than hồng, miệt mài nương rẫy.

Đoạn này bồng lai, Nho Quế lách mình qua hẻm Tu Sản. Phía trên dòng ngọc bích huyền thoại, lác đác những em bé Mông bám vào vách đá cheo leo cắt cỏ, điệu nghệ như những chú dê núi đánh vật với địa hình khấp khểnh kiếm miếng ăn. Phải chăng, trong bể dâu này, để được sống chưa bao giờ là dễ dàng với cả con người lẫn vạn vật, đầy chông gai và bất trắc bủa vây.

Đi qua nhiều miền đất, miền người của Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh… tôi mới nghiệm ra rằng, nơi đây, sự sống sinh ra trên đá. Nên đá là lịch sử, là văn hóa, là trầm tích khốn khó trong cuộc tồn sinh. May thay trên đá ấy, không chỉ có vòng đời của ngô lúa nhọc nhằn tuần hoàn năm tháng mà còn có cả hoa đào, lê, mơ, mận xúng xính điểm tô. Là đá nở hoa!

Cũng cần nói thêm, nếu không quen với “cái sự khổ” thì nên cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định đến cao nguyên khát, càng phải đắn đo hơn nữa với những vùng đất xa xôi như Săm Pun, Lũng Cú, Xín Cái, Sơn Vĩ, Sủng Là… Bởi thực tế đôi khi không như chúng ta nghĩ, không chỉ có sắc màu lung linh trong những bức ảnh “sống ảo” của mùa vàng ruộng bậc thang, của bạt ngàn trắng tím tam giác mạch, của dòng Nho Quế thẳm xanh, của sự phấn khích và mãn nguyện khi chinh phục mõm đá tử thần. Mà biên viễn Hà Giang luôn thừa thãi ghập ghềnh, nhìn đâu cũng thấy đá tai mèo nhe nanh giương vuốt, núi cao vực sâu lởm chởm chực chờ.

Nhưng, cuộc đời này chỉ có một lần để sống, để trải nghiệm. Và Hà Giang, phía ấy luôn nắm níu gọi mời.

Ngay lúc này đây, lại nhớ những buổi chiều trên núi cao, lồng lộng gió trời, mơ màng sương tung cánh trắng thiên di. Phía đó núi xanh, sông xanh, thung xanh và tóc em xanh… Hết thảy thiên thanh. Có phải nợ duyên không mà sao tôi cứ rưng rức với miền cao?

Lê Hải Kỳ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).