Đọc “Rong chơi miền vui thú”, tùy bút, tản văn của tác giả Lê Hữu Tỉnh, NXB Văn học, 2024

Rong chơi như niềm vui sống

Cách đây chưa lâu, độc giả được cầm trên tay cuốn tản văn hấp dẫn "Tôi kể chuyện làng" (NXB Văn học, 2022) của nhà giáo, tiến sĩ Lê Hữu Tỉnh. Bất ngờ là chưa đầy một năm sau, khi "Tôi kể chuyện làng" dường như vẫn còn thơm mùi giấy mực, thì "Rong chơi miền vui thú" tiếp tục ra đời.

So sánh một chút, có thể nhận ra, nếu "Tôi kể chuyện làng" là sự tiếp nối, bổ sung cái “chuyện làng miên man không dứt” có từ "Quê hương tuổi thơ" (NXB Kim Đồng, 2015), "Chuyện làng quê một thuở" (NXB Văn học, 2021) thì "Rong chơi miền vui thú" là sự bứt phá, tách khỏi mạch xúc cảm ấy, để “thơ thới” giao hòa với thiên nhiên, với cuộc đời, trong những cuộc du chơi. Nếu "Tôi kể chuyện làng" ngân vang đường về ký ức với “Lũy tre làng tôi”, “Cây đa cổ thụ”, “Giếng nước tuổi thơ”, “Thú câu cá chuối”, “Nghề làm ren”, “Bánh gio làng Hạ”, “Nhà em có vại cà đầy” … thì "Rong chơi miền vui thú" là những cuộc tìm vui trong thời hiện tại đang sinh thành của nhà văn. Nhìn từ một góc khác, nếu "Tôi kể chuyện làng" là một “khảo cổ học về quá khứ”, miên man cảm thức “một mình với làng quê”, thì "Rong chơi miền vui thú" lại là cuộc du chơi, thong dong trên những miền đất lạ cùng những người bạn tâm giao…

nhà giáo, ts lê hữu tỉnh.jpg -1
Nhà giáo, tiến sĩ Lê Hữu Tỉnh.

Đọc "Rong chơi miền vui thú", thấy sinh quyển du chơi của Lê Hữu Tỉnh rất rộng. Bởi nhìn đời qua lăng kính của kẻ rong chơi, nên đâu cũng là thế giới của sự chơi trong cảm nhận của ông. Danh thắng, ẩm thực, lời ca, sưu tầm cổ vật, ghi chép lịch sử, chơi tổ tôm, đá gà, niềm vui con chữ… tóm lại là tất cả những sinh quyển vật chất, tinh thần mà ông gọi là “thú vui thường nhật”. Không phải ngẫu nhiên, câu chuyện, tình yêu mảnh đất, con người trong "Rong chơi miền vui thú" của Lê Hữu Tỉnh xuyên không gian, thời gian, từ những chuyện bé nhỏ li ti đến cả những việc trọng đại của đất nước.

“Sống có lãi” là câu cửa miệng đùa vui của những người hưu, những người biết tìm vui thú trong cuộc đời ở lứa tuổi này: cảm nhận thiên nhiên, cây cỏ, nhịp đi của thời gian, chắt chiu ánh mắt nụ cười, tiếng hỏi câu chào của bè bạn, người thân, của những người ta yêu mến. Lê Hữu Tỉnh còn có thêm chút khác biệt: ông dành thời gian trên những trang giấy thấm đẫm tình đời, cần mẫn, kỳ khu ghi lại những ký ức, kỷ niệm, những gương mặt mến thương. Không phải ngẫu nhiên, ai gặp Lê Hữu Tỉnh ngoài đời cũng cảm nhận ở ông sự ấm áp, nồng hậu, luôn cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói và lịch lãm trong ứng xử với mọi người.

"Rong chơi miền vui thú" trước hết là để “rong chơi”, hẳn thế rồi. Cũng không phải ngẫu nhiên, bài nào trong cuốn tản văn của Lê Hữu Tỉnh cũng ngây ngất men say. Nói rong chơi có người nghĩ ngay, phải có điều kiện mới chơi được như thế chứ. Tôi thì nghĩ khác. Điều kiện đành rằng là một ý, nhưng người chơi phải có tâm hồn đủ rộng, đủ bén nhạy để nắm bắt và hòa điệu với thiên nhiên và cuộc đời thì mới có những nhịp đi “thơ thới” như thế được. Nhưng rong chơi của Lê Hữu Tỉnh không đơn giản là sự thỏa mãn thú chơi của cá nhân, mà mang chứa niềm khát khao lan tỏa, mời gọi mỗi người hãy tìm lấy những niềm vui sống lành mạnh trong đời.

Bởi thế, trong cuộc rong chơi, Lê Hữu Tỉnh luôn có ý thức chắt chiu, gạn lọc để gìn giữ cái đẹp cho đời. Cái tinh chất ấy bắt nguồn từ sự cộng cảm, giao hòa “ba trong một” trong tâm hồn của “người chơi”: một nhà giáo lão thực, một trí thức - công dân gương mẫu và một văn nhân trầm tĩnh, dịu nhẹ, lắng sâu. “Một bát thắng cố nóng hổi vừa được múc ra bằng chiếc muôi gỗ từ chảo thắng cố sôi sục sục. Một bát rượu ngô Bản Phố cay nồng. Nhâm nhi nhấm nháp trong tiết trời se lạnh, vừa ấm bụng vừa thăng hoa, thơ thới. Trần gian hóa thiên đường trong chốc lát” (Phiêu du Bắc Hà - miền cao nguyên trắng).

Trong cuộc du chơi, Lê Hữu Tỉnh tỏ rõ là người quan sát kỹ lưỡng, tinh tường. Trước một cảnh sắc, một món ăn hay một thú chơi, ông luôn tái hiện chúng bằng toàn bộ con người xúc cảm của mình. Ngoại giới được nội tâm hóa, để rồi, đến lượt mình, chúng được ngoại hiện hóa bằng tất cả sự thính nhạy của các giác quan, song chủ yếu không phải các giác quan chiếm lĩnh, mà là các giác quan thưởng ngoạn. “Chúng tôi đến Y Tý đúng thời điểm lúa chín vàng rực trên những triền ruộng bậc thang uốn lượn chạy dài tít tắp. Những lớp sóng vàng, những dải lụa vàng trải dài trên sườn đồi, sườn núi hòa sắc cùng rừng xanh, mây trắng, tạo nên bức tranh thiên nhiên đẹp mê hồn” (Mênh mang… Y Tý đại ngàn).

Đọc Lê Hữu Tỉnh, không chỉ thấy niềm vui thưởng ngoạn, mà còn là những “khoái thú hiểu biết”. Hiểu biết ở đây không phải những câu chuyện hàn lâm, mà là những thường thức hết sức gần gụi, đời thường dành cho những ai chưa có điều kiện đọc, tìm hiểu có cơ hội biết thêm điều gì đó về mảnh đất, con người, văn hóa.

anh sach 1.jpg -0
Một tác phẩm của nhà giáo Lê Hữu Tỉnh.

Nói Lê Hữu Tỉnh rong chơi, nhưng là một cuộc rong chơi đầy trách nhiệm. Phải là người có tâm hồn gần gụi với thiên nhiên, có mối lương duyên và tương giao với vạn vật thì mới có sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế, chi chút nâng niu như thế (chiếc lá mồng tơi, quả dưa chuột, khóm hoa tam giác mạch…). Thưởng ngoạn ở đây luôn gắn với chăm sóc, vun trồng, không phải thưởng ngoạn hay thụ hưởng một chiều. Thú vui của Lê Hữu Tỉnh luôn có lao động là như thế.

Lê Hữu Tỉnh có một trường nhìn, trường quan sát rất rộng và có lẽ quan trọng hơn, ông có một trường liên tưởng phong phú và sự khéo léo trong gắn nối thực cảnh với ký ức, với văn hóa. Chuyện cỏ cây hoa lá, thắng cảnh, thế là lại thành chuyện văn hóa, ý thức công dân, đôi lúc đan xen chút nỗi niềm nhân tâm thế sự. Có điều đặc biệt ở đây là, dầu viết về đối tượng nào, ngay cả trong những phút suy tư nhất, ngòi bút Lê Hữu Tỉnh không vây vo, hờn dỗi với đời, mà luôn hướng đến những điều tốt đẹp để chắp nhặt, nâng niu và lan tỏa.

Những thú vui trong cuộc rong chơi của ông, do thế, luôn là thú vui lành mạnh, mang lại năng lượng tích cực cho đời. Ngọn gió xuân, bông hoa li ti bên song cửa, cái thác nước óng ả, con đường đổ bóng, nhịp thời gian lúc sang mùa… Ở tuổi mình, hẳn ông thấu hiểu những thị phi phải trái ở đời, nhưng trước sau ông vẫn thủy chung theo đuổi triết lí sống của mình: hãy vui sống lành mạnh với cõi nhân gian, với mỗi phút giây hiện hữu trên mặt đất này. Nói ngòi bút Lê Hữu Tỉnh đa dạng mà thống nhất, là như thế.

Trong miền vui thú của Lê Hữu Tỉnh, có một cuộc rong chơi đặc biệt: rong chơi miền chữ nghĩa. Chính nhờ công việc không ít nhọc nhằn này, mà hàng nghìn, hàng vạn con chữ sinh sôi trên trang giấy. Ở đời rất lạ, anh có thể là một ông vua, nhưng tôi lại không phải thần dân trong vương quốc của anh. Cái người này cho là nhọc nhằn, khổ ải, lại là cái mang lại niềm vui cho kẻ khác. Hễ chơi là phải vui, phải thích. Thế là, Lê Hữu Tỉnh có cuộc chơi kép, một cuộc “siêu chơi”: rong chơi những miền vui thú cùng bè bạn và đến lượt mình, ông rong chơi một mình cùng con chữ. Chính nhờ cuộc chơi đặc biệt này mà những vui thú ở đời được neo giữ lại, được khoảnh khắc hóa, trở nên có ý nghĩa hơn. Rong chơi như thế, nào dễ mấy người!

Trong cuốn tản văn của mình, Lê Hữu Tỉnh dành nhiều tình cảm nồng đượm ân tình với những ký ức, kỷ niệm về Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2 và với Xuân Hòa, mảnh đất trung du nắng gió, nơi ông và bạn bè có những tháng năm không thể nào quên, nơi lưu giữ một thời tuổi trẻ nghèo khó nhưng đẹp đẽ. Cái ký ức, khung trời kỷ niệm ấy in sâu đến độ, giờ đây, bất cứ ai nhắc nhớ, hay chỉ chạm khẽ thôi, cũng đủ để thương nhớ, nghẹn ngào (Rưng rưng… năm tháng Xuân Hòa).

Ngôn ngữ tản văn Lê Hữu Tỉnh vừa chặt chịa, cô đúc vừa tung tẩy, khoáng đạt. Nhịp điệu câu văn như nhịp đi của tâm trạng. So với "Tôi kể chuyện làng", tương hợp với sự chơi, cách hành văn, giọng điệu trong "Rong chơi miền vui thú" dường như có phần phóng khoáng, bay bổng hơn. Phẩm tính nghệ sĩ và sự hòa điệu với cuộc du chơi đã khiến văn chương ông cất cánh như thế, phải vậy chăng.

Lê Hữu Tỉnh là nhà giáo, nhà quản lý gắn bó với giáo dục và ngành xuất bản ở những thời đoạn thăng trầm nhất của nó, nhưng có lẽ sự cộng cảm của chúng tôi với ông lại đến từ sự mực thước, rất đỗi ân tình mà ông dành cho bạn bè, đồng nghiệp, học trò. Gần đây, trong tâm thế của một người hưu, ông dành trọn tâm trí của mình cho lao động viết lách và những cuộc rong chơi. Chơi với bạn bè, kỷ niệm, chơi với những vùng đất, con người, cảnh vật và chơi với chính mình, trong thế giới chữ nghĩa của riêng ông.

Lê Hữu Tỉnh cảm nhận được rất rõ nhịp đi của thời gian. Ông chăm chút, gạn lọc và cần mẫn lưu giữ bằng con chữ những đẹp đẽ mến yêu của cuộc đời. Ông là một “nhà khảo cổ học” về những nét đẹp văn hóa tinh thần đã và đang còn vương sót lại trong cõi nhân gian vốn dĩ quá đỗi xô bồ này.

Phùng Gia Thế

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).