Việc Chính phủ ban hành chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 được xem là bước cụ thể hóa Điều 7 Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về đột phá phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Mục tiêu lớn nhất của Chiến lược là đưa giáo dục đại học trở thành “hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia”, giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.
Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu có 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%; người học sau đại học chiếm 15%; người học STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ; 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong 12 tháng...
Chiến lược xác định không thể nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu nếu tiếp tục đầu tư nhỏ lẻ, phân tán hoặc chỉ chú trọng giảng đường. Hạ tầng đại học hiện đại phải bao gồm đồng bộ phòng thí nghiệm, hạ tầng số, dữ liệu, trung tâm tính toán và không gian đổi mới sáng tạo. Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đại học tinh hoa và các ngành chiến lược; phát triển từ 20 đến 25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc tế, với nòng cốt là các phòng thí nghiệm trọng điểm, hợp tác với doanh nghiệp công nghệ lớn và đại học uy tín trên thế giới...
Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 được xem là “bản đồ phát triển” của giáo dục đại học Việt Nam, đồng thời là căn cứ để sắp xếp mạng lưới, giao nhiệm vụ và đầu tư nguồn lực trong giai đoạn tới. Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ phát triển chủ yếu theo quy mô sang phát triển theo chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp.
Trước hết, hệ thống được phân loại theo nhóm giáo dục đại học đại chúng để mở rộng cơ hội tiếp cận; các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc gia, ngành và vùng; một số đại học tinh hoa phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Đây không phải là phân hạng hành chính, mà là xác định rõ sứ mạng, tiêu chuẩn, trách nhiệm và cơ chế đầu tư của từng nhóm cơ sở.
Thứ hai, chuyển mạnh từ quản lý hành chính nặng về thủ tục sang quản trị chiến lược, quản trị bằng dữ liệu và kiến tạo phát triển. Cơ quan quản lý tập trung hoạch định, xây dựng chuẩn, giám sát và hậu kiểm; cắt giảm tầng nấc trung gian và thủ tục không cần thiết. Nhà trường được mở rộng tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình bằng dữ liệu và kết quả.
Thứ ba, đổi mới phương thức đầu tư: không phân bổ dàn đều mà tập trung theo sứ mạng và sản phẩm đầu ra. Chiến lược định hướng lựa chọn khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, trong đó phát triển từ 3 đến 5 cơ sở thành đại học tinh hoa; ưu tiên các ngành then chốt, công nghệ chiến lược và nhiệm vụ phát triển quốc gia.
Thứ tư, lấy chất lượng đầu ra và tác động kinh tế - xã hội làm thước đo. Chất lượng phải được thể hiện qua năng lực người học, việc làm sau tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và mức độ đóng góp cho ngành, địa phương và đất nước. Nhà nước đầu tư theo sứ mạng, chất lượng và hiệu quả; nhà trường phát triển bằng năng lực thực và chịu trách nhiệm về kết quả thực...