Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về

Có thể nói, vườn trong thơ Nguyễn Bính như một thực thể có tính đại diện nhất của không gian nông thôn, không gian làng quê. Nhà thơ xuất thân từ nông thôn, ra đi cũng từ nông thôn, vườn vì thế vừa là hiện tại, vừa là quá khứ, vừa là điểm ra đi, vừa là chốn khát khao trở về...

Rất nhiều người trong số chúng ta đều lớn lên từ một vùng quê. Khi đi xa, nhớ về quê hương của mình, ngoài nỗi nhớ những người thân yêu, ta còn nhớ cả những không gian của quê hương mình. Không gian ấy có thể là giếng nước gốc đa sân đình như ca dao vẫn thường hay nhắc tới, có thể là cánh đồng, ngôi chùa, nhà thờ, rặng tre, bờ ao, có thể là con sông, dòng kênh hay những con đường làng... Nhưng có một không gian nhỏ nhắn hơn, liền kề với ngôi nhà ta ở mỗi ngày, nơi có thể cất giữ giùm ta đầy ắp những kỷ niệm ấu thơ, đó là mảnh vườn thân thuộc.

1. Mở lại những trang thơ thiếu nhi của Trần Đăng Khoa, ta sẽ gặp trong đó vô số những mảnh vườn. Mảnh vườn trong thơ Trần Đăng Khoa giống như cả một thế giới đầy bí mật và cuốn hút với trẻ thơ. Nơi đây có đủ các loại cây trồng như: chuối, khoai, cà, bí đỏ, na, có chim hót líu lo, có ánh trăng huyền ảo, có những “sự kiện” tuổi thơ thật khó quên như đám ma bác Giun: "Kiến Lửa đốt đuốc đỏ làng/ Kiến Kim chống gậy, Kiến Càng nặng vai/ Đám ma đưa đến là dài/ Qua những vườn chuối, vườn khoai, vườn cà".

Khu vườn khiến cho tuổi thơ được gần gũi với thiên nhiên nhiều hơn và tình yêu cuộc sống, yêu con người, hẳn sẽ được nhen nhóm lên từ những điều rất đỗi đơn sơ như vậy: "Vườn em có một luống khoai/ Có hàng chuối mật với hai luống cà/ Em trồng thêm một cây na/ Lá xanh vẫy gió như là gọi chim/ Những đêm lấp ló trăng lên/ Vườn em dậy tiếng dịu hiền gần xa/ Em nhìn vẫn thấy cây na/ Lá xanh vẫy gió như là gọi trăng" (Vườn em)

 Thế giới của khu vườn giống như một cuộc sống thu nhỏ, luôn biến đổi không ngừng với nhiều động thái, nhiều diễn biến mà nhà thơ nhỏ tuổi của chúng ta luôn kịp thời ghi lại bằng một thứ ngôn ngữ linh hoạt và đầy biểu cảm: "Ngoài sân có mấy con gà/ Ngoài vườn có mấy quả na chín rồi" (Ảnh Bác), "Nghe hàng chuối vườn em/ Gió trở mình trăn trở/ Chuột chạy giàn bí đỏ/ Loang vỡ ánh trăng vàng" (Nửa đêm tỉnh giấc)

Và có một lần thật đặc biệt, vườn trong thơ Trần Đăng Khoa còn biểu hiện được sắc thái thành kính, tiếc thương khi nhà thơ nhỏ tuổi đến thăm nhà anh hùng Mạc Thị Bưởi: "Trưa nay em đến thăm cô/ Nắng chiêm chín rực đôi bờ phi lao/ Sắc hoa râm bụt quanh ao/ Tiếng chim vườn mẹ cùng vào thăm cô" (Em dâng cô một vòng hoa)

Sau này, Vũ Quần Phương trong một bài thơ viết cho thiếu nhi cũng nhắc đến vườn với những kỷ niệm tuổi thơ đầy yêu thương bên bà, bên cha mẹ: "Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió/ Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay/ Tiếng lích chích chim sâu trong lá/ Con chìa vôi vừa hót vừa bay" (Nói với em)

 Còn Trịnh Công Sơn khi nhớ đến vườn là nhớ về tất cả những âm thanh thân thương trìu mến nhất: "Em ra đi nơi này vẫn thế/ Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ/ Vườn xưa vẫn có tiếng me ru/ Có tiếng em thơ/ Có chút nắng trong tiếng gà trưa" (Em còn nhớ hay em đã quên)

2. Trong thơ cổ điển, nhắc đến vườn là thường gắn với thú điền viên của những bậc tao nhân mặc khách, những hiền nhân ẩn sĩ, hoặc những người đã dời bỏ cuộc sống phồn hoa nơi triều đình để tìm về làng quê. Nếu như thi ca Trung Quốc có bài "Quy khứ lai từ" của Đào Tiềm với hình ảnh vườn ruộng xuất hiện ngày từ câu đầu (Đi về sao chẳng về đi/ Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về) thì Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến cũng có hàng loạt bài thơ với hình ảnh vườn Bùi chốn cũ. Có thể kể đến các bài: "Trở về vườn cũ", Uống rượu ở vườn Bùi", "Bùi viên đối ẩm trích cú ca", "Bùi viên biệt thự hỉ thành...". Vườn trong thơ Nguyễn Khuyến nhuốm đầy tâm sự buồn thương của một kẻ sĩ bất lực trước thời cuộc, đành phải tìm cách giữ vẹn khí tiết cho riêng mình: "Vườn Bùi chốn cũ/ Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây/ Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây/ Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế/ Bành Trạch cầm xoang ngâm trước ghế/ Ôn công rượu nhạt chuốc chiều xuân/ Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm khăn/ Tình thương hải tang điền qua mấy lớp..." (Trở về vườn cũ, tác giả tự dịch Bùi viên cựu trạch ca)

 Đỗ Phủ trong bài "Thu hứng 1" cũng từng nhắc đến vườn với đầy những nỗi niềm xót xa của kẻ giang hồ phiêu bạt: "Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ/ Cô chu nhất hệ cố viên tâm" (Tùng cúc hai lần nở dòng lệ xưa/ Con thuyền lẻ loi buộc chặt mối tình vườn cũ).

3. Trong thi ca Việt Nam hiện đại, một người có nhiều dụng công đưa vườn vào thơ là Nguyễn Bính. Trong 272 bài thơ trước Cách mạng của ông, “vườn” xuất hiện tất cả 81 lần trong 35 bài thơ, tức là cứ đọc trung bình khoảng 3,3 bài thơ của Nguyễn Bính, ta lại một lần bắt gặp hình ảnh này. 81 lần xuất hiện khác nhau của “vườn” có thể được tổng kết và đưa về 4 loại cơ bản như sau:

Nhóm 1 là những trường hợp chủng đi trước loại đi sau, bao gồm: (vườn hoa, vườn cải, vườn chè, vườn dâu, vườn cam, vườn đào, vườn cúc, vườn lê, vườn hồng, vườn mía, vườn mai, vườn cây); trong đó nhiều nhất là vườn dâu: "Cậy em em ở lại nhà/Vườn dâu em đốn mẹ già em thương" (Lỡ bước sang ngang), "Đem thân về ở vườn dâu cũ/ Buồn cũng như khi chị lấy chồng" (Khăn hồng). Nhóm 2 là những trường hợp “vườn” kết hợp với một tính từ đi sau bổ nghĩa cho danh từ đi trước, bao gồm: (vườn xác xơ, vườn hoang, vườn cũ, vườn vắng, vườn khuya): "Ở nhà em nhớ mẹ thương/ Ba gian trống một mảnh vườn xác xơ. (Lỡ bước sang ngang),  "Xa rồi vườn cũ hoa cam rụng/ Gặp lại nhau chi muộn mất rồi" (Hoa với rượu)

Nhóm 3 là những trường hợp “vườn” đi với một danh từ, cụm danh từ hoặc đại từ ở phía sau, bao gồm: (vườn trần, vườn xuân, vườn Thượng uyển, vườn ai, vườn nhà, vườn đất, vườn ngự, vườn Ngự uyển, vườn tiên, vườn Thanh, vườn tôi, vườn này, vườn Nam, vườn chiều): "Rượu ái tình kia thành thuốc độc/Vườn trần theo bướm phấn hương bay" (Hoa với rượu), "Vườn xuân trắng xoá hoa cam rụng/ Tôi với em Nhi kết vợ chồng" (Hoa với rượu).

Nhóm 4 là những trường hợp “vườn” hoạt động một cách tương đối độc lập. Có thể ghi nhận các mô hình ở khu vực này như: động từ + vườn (ra vườn, có vườn), tính từ + vườn (ngập vườn, đầy vườn), giới từ + vườn (trong vườn), danh từ + vườn (cây vườn) hoặc các trường hợp “vườn” hoạt động tự do khác: "Vườn đầy hoa trắng như em ấy/ Bỗng một bà tiên hiển hiện ra" (Truyện cổ tích),  "Em sang bắt bướm vườn anh mãi/ Quên cả làng Ngang động trống chèo" (Hết bướm vàng).

Có thể nói, vườn trong thơ Nguyễn Bính như một thực thể có tính đại diện nhất của không gian nông thôn, không gian làng quê. Nhà thơ xuất thân từ nông thôn, ra đi cũng từ nông thôn, vườn vì thế vừa là hiện tại, vừa là quá khứ, vừa là điểm ra đi, vừa là chốn khát khao trở về.

Tất cả những ký ức của thi nhân đều không tách rời khỏi vườn. Vườn gắn với tất cả những người yêu thương trong cuộc đời tác giả: người mẹ, người chị, người bạn gái thuở thiếu thời, những người yêu đã đi qua trong cuộc đời. Và khi phải đặt mình trong mối quan hệ giằng xé, hút đẩy giữa nông thôn – thành thị thì vườn luôn là không gian đầy ám ảnh, đầy day dứt như một tiếng vọng luôn réo gọi con người. Vườn trong thơ Nguyễn Bính như một biểu tượng mà ẩn chứa sau nó không chỉ một tình yêu da diết với làng quê mà còn có cả một tình cảm dân tộc kín đáo trong cảnh nước nhà đang bị nô lệ.

4. Nhiều nhà thơ Việt Nam hiện đại khác cũng có những câu thơ, bài thơ đặc sắc về vườn. Vườn trong thơ Hàn Mặc Tử là một hoài niệm trong trẻo lạ thường gắn với bóng hình cố nhân: "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc" (Đây thôn Vỹ Dạ).

Vườn trong thơ Tế Hanh là mảnh vườn của nghĩa tình sâu nặng với mẹ, với vợ, với những kỷ niệm thiêng liêng mà lứa đôi đều thầm giữ vẹn trong lòng: "Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa/ Như mặt trăng mặt trời cách trở/ Như sao hôm sao mai không cùng ở/ Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa/ Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu/ Như tháng mười hồng tháng năm nhãn/ Em theo chim đi về tháng tám/Anh theo chim cùng với tháng ba qua" (Vườn xưa). Vườn trong thơ Lưu Quang Vũ lại là một góc nhìn khác, gắn với tình yêu lứa đôi, niềm tin và hy vọng: "Vườn em là nơi đọng gió trời xa/ Hoa tím chim kêu bàng thưa lá nắng/ Con nhện đi về giăng tơ trắng/ Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi (...) Mảnh vườn em vẫn là mảnh vườn xanh/ Nơi ban đầu lòng ta ươm tổ mật/ Nơi ta hái những chùm thơ thứ nhất/ Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về" (Vườn trong phố).

Vườn trong tâm thức người Việt mãi là một điều thiêng liêng, trân trọng, giữ gìn. Và thậm chí, người ta có thể sẵn sàng đổi cả tính mạng của mình để giữ lấy vườn. Đó chính là câu chuyện mảnh vườn của Lão Hạc (Nam Cao) đầy day dứt và ám ảnh mà tôi muốn dùng chính những câu văn cuối cùng trong tác phẩm ấy làm đoạn kết cho bài viết này: “Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn. Cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào”.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).