(Đọc “Trăng lên”, tiểu thuyết của Thế Đức, Nxb Hội Nhà văn, 2022)

Những người muôn năm cũ...

“Trăng lên” - một ví dụ điển hình về sự trở lại của đề tài truyền thống trên văn đàn. Nhà văn Thế Đức đã trải qua “thời tôi mặc áo lính” (1971-1976), tác giả ba tập truyện ngắn và vừa của anh “Lời nguyền thiêng”, “Ngưỡng đời”, “Bão đỏ”, đều thấm đậm chất đời của “cái hôm nay”. Tôi vừa nhận món quà văn chương vẫn còn đậm hương vị của mùa xuân - tiểu thuyết “Trăng lên” của Thế Đức.

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ...”

(Ông đồ - Vũ Đình Liên)

“Trăng lên” - một ví dụ điển hình về sự trở lại của đề tài truyền thống trên văn đàn. Nhà văn Thế Đức đã trải qua “thời tôi mặc áo lính” (1971-1976), tác giả ba tập truyện ngắn và vừa của anh “Lời nguyền thiêng”, “Ngưỡng đời”, “Bão đỏ”, đều thấm đậm chất đời của “cái hôm nay”. Tôi vừa nhận món quà văn chương vẫn còn đậm hương vị của mùa xuân - tiểu thuyết “Trăng lên” của Thế Đức.

Viết tiểu thuyết là cuộc thử sức với tác giả, một cuộc vượt vũ môn. Bởi vì, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết là cả một khoảng cách, xét về nghề văn, rất công phu, lắm chông gai. Có nhà văn danh tiếng nổi như cồn với truyện ngắn, nhưng khi “bập” vào tiểu thuyết là loạng choạng. Viết tiểu thuyết, đòi hỏi nhà văn, như từ một Giám đốc công ty, một bước lên chức Tổng Giám đốc Tập đoàn (vốn/ nhân sự/ chiến lược...) toàn chuyện vĩ mô.

279903834_373404784829498_8322412188186029127_n.jpg -0
Chân dung tự họa của nhà văn Thế Đức.

“Trăng lên” - viết về chiến tranh qua số phận con người. Thời gian của câu chuyện được kể mở ra ngót một phần tư thế kỷ, từ sau Cách mạng Tháng Tám (1945), đến sau Tết Mậu Thân (1968). Không gian được mở rộng ra từ một làng/ xã, đến huyện, đến tỉnh, đến cả nước căn cứ theo dấu chân sống và hoạt động của nhân vật thuộc mọi tầng lớp xã hội, đảng phái chính trị, trình độ học vấn, căn cốt văn hóa,...

Tiểu thuyết bao dung nhiều nhân vật, thường hay được gắn kết bằng những cặp (có cặp đôi hoàn hảo và có cặp đôi bình thường). Những cặp hoàn hảo là vợ chồng Loan - Thắng, đôi bạn già, hai lão nông tri điền Hai - Tuệ, Đặng Vũ - Huyền Thương. Cũng có những cặp đôi bình thường như Tùng - Nhung, Bạch Yến - chồng là quân nhân chinh chiến xa nhà.

Lại có những nhân vật, trước đây sẽ bị xếp vào “ô” phản diện, tiêu cực, cần xóa sổ như lão Sáng (có con trai là Sang, sĩ quan của quân đội Pháp). Nhưng tác giả đã chuyển dịch nhân vật này sang vị trí “con người phân thân”. Có những nhân vật cán bộ Đảng cấp cao (Bí thư Tỉnh ủy), nhưng không phải lúc nào việc gì cũng muốn là làm được, kể cả việc tốt và đúng, vì hoàn cảnh xô đẩy. Có thể nói, thế giới nhân vật của Thế Đức trong tiểu thuyết “Trăng lên” khá đông đảo và đa diện. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh đến tính chất “đa nhân cách” của từng nhân vật.

Trong cách gọi “đa nhân cách” của nhân vật thì Loan và Đặng Vũ là rõ rệt nhất. Họ là một đối sánh để người đọc tri nhận được tính chất phức tạp của đời sống và con người không phải là một hằng số (bất biến). Trái lại, đời sống và con người luôn là một biến số (biến đổi). Cái nhìn biện chứng này giúp nhà văn tái hiện được một cách thuyết phục những thăng trầm của số phận nhân vật.

Nếu Loan vì tính tình thẳng thắn, cương trực mà trong đường đời gặp nhiều khó khăn, trắc trở thì Đặng Vũ lại vì tha thiết và kiên trì bảo vệ quan điểm nhân văn của mình trước đồng loại (trong sự kiện Cải cách ruộng đất và Sửa sai những năm 1954-1956) mà thất thủ quan trường (từ Bí thư Huyện ủy phải điều sang Giám đốc nông trường, thật bĩ cực mà chưa nhìn thấy thái lai).

screen shot 2022-05-13 at 09.12.02.jpg -0
Bìa tiểu thuyết mới của nhà văn Thế Đức.

Nhân vật của Thế Đức trong “Trăng lên”, nếu là lớp người cao tuổi (như ông Hai, ông Tuệ) thì phảng phất hình bóng những ông già Nam bộ - hào phóng, hào hiệp, khảng khái, nghĩa khí, tiết tháo, kiểu “kiến ngãi bất vi vô dũng dã”. Nhân vật trẻ thơ thì như “tôi” (người kể chuyện và chị gái,...), đều thấm nhuần một tinh thần đạo lý truyền thống. Họ đều thuộc thế hệ “tre già măng mọc”, những hạt giống đỏ thuộc tương lai đất nước. Thắng (chồng Loan), một sỹ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam, là một hình mẫu lý tưởng của con người Việt Nam thời đại cách mạng và chiến tranh, xả thân vì đạo lý “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Anh trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và cuối cùng hy sinh thầm lặng và oanh liệt vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Anh thuộc thế hệ tận hiến nhiều hơn tận hưởng. Nhân vật này thuộc kiểu mẫu lý tưởng, ngày nay chỉ có trong mơ. Huyện đội trưởng Quyết là một nhân cách trong sáng và có phần đơn giản và ngây thơ trước mọi biểu hiện tinh vi của nhân tình thế thái. Anh khăng khăng mang cái tốt đẹp của thời chiến để hành xử trong thời bình, mà quên đi người tốt trong hoàn cảnh mới cần phải thông minh hơn trước. Đa số nhân vật được tác giả yêu mến, tin cậy, kí thác tâm sự đều thuộc “những người muôn năm cũ”.

Mỗi nhân vật trong tiểu thuyết “Trăng lên” với tư cách một con người, đều có số phận. Số phận lại do tính cách cá nhân quy định, tính cách lại do hoàn cảnh tạo nên. Vì thế, tác giả rất chú ý miêu tả tính chất phức tạp của tính cách được tạo bởi chính hoàn cảnh mà nó trải nghiệm (có tính chất hẹp và rộng - vi mô và vĩ mô). Miêu tả hoàn cảnh, tác giả chú ý đến cái gọi là “dòng chìm” hay “mặt khuất lấp” của nó, chính những phương diện này tạo nên như người ta gọi là “hoàn cảnh xô đẩy” con người về phía thiện hay phía ác. Chiến tranh làm phát lộ cái tốt nhưng cũng có thể là nguyên nhân làm nảy nở cái ác ở con người.

Tôi thấy tác giả không cực đoan đứng hẳn về một phía nào khi viết. Nghĩa là có sự điều hòa cần thiết giữa tỉnh và say, để đúng mức khi ca ngợi hay phê phán. Nhân vật tốt của Thế Đức thường lâm vào tình thế “dở dang” (như Đặng Vũ, Loan, Thắng, Tùng, Huyền Thương,...). Cái dở dang ấy không người nào muốn nhưng họ buộc phải chấp nhận khi sống trong một hoàn cảnh chiến tranh, ly tán, tao loạn, hay bể dâu nỗi đời, khi các bậc thang giá trị thay đổi chóng mặt. Những người (nhân vật) tốt của Thế Đức đều phải trải qua lửa đỏ và nước lạnh, mải miết độc hành trên con đường đau khổ dài dằng dặc.

Nhưng tôi có cái cảm giác, tác giả đôi khi giống bậc sinh thành (như cha, như mẹ), thương yêu đàn con đông đúc (nhân vật) nên thường chia đều tình cảm và của nả cho họ theo tinh thần chủ nghĩa trung bình (như lối dân chủ bình quân). Nên chăng cần thiết có những “quả đấm nghệ thuật”, tập trung cho cặp đôi Loan - Thắng và có thể ưu ái Đặng Vũ nhiều hơn, chẳng hạn. Tác giả nếu muốn viết theo tinh thần có hậu thì sau khi Thắng hy sinh, có thể “mở cửa” (theo tinh thần đổi mới) cho Đặng Vũ gặp lại Loan, không phải là gá nghĩa mà là một cuộc đoàn tụ trong nước mắt, là sự bù đắp những tổn thất không có gì có thể so sánh nổi, được không?!

"Trăng lên" - sự lựa chọn bút pháp mới của Thế Đức. Tâm thế “nhúng bút vào sự thật” hằn lên trên từng trang viết của tiểu thuyết. Bút pháp của “Trăng lên”, theo tôi, là “hiện thực” - “tâm lý” - “trữ tình”. Ngay cái nhan đề đã hàm chứa chất trữ tình. Nhưng tâm lý và trữ tình trong trường hợp này được nương theo, biểu hiện ra hành vi (ứng xử, ngôn từ). Vì thế rất ít độc thoại nội tâm và trữ tình ngoại đề. Hành động được “đưa đẩy” bằng biến cố và đối thoại.

Thế Đức có duyên khi viết đối thoại (nhất là đối thoại trong lĩnh vực tình cảm, ví dụ cuộc đối thoại giữa Thắng và bố trước khi quyết định dấn thân vào miền Nam sau 1954; giữa Hoa và Bạch Yến trong một tình huống rất người; đối thoại chất chứa tâm lý giữa Loan và Đặng Vũ),...

Rất tiếc, nhân vật Thắng (chồng Loan) đẹp, oai hùng, nhưng có vẻ bảng lảng cũng vì anh thoắt ẩn thoắt hiện do yêu cầu của công tác chiến đấu đặc biệt, sau 1954 do yêu cầu của tổ chức, Thắng được đánh sâu vào hàng ngũ đối phương (lên tới chức Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa). Biết đâu anh có những ngả rẽ số phận. Nhân vật này để lại nhiều tiếc thương, tiếc nuối nhất tiểu thuyết.

Anh là Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Liệt sĩ - người được Tổ quốc và nhân dân ghi công mãi mãi. Nhân vật này là một trữ lượng nghệ thuật mà có thể tác giả chưa khai thác hết công năng của nó. Nếu các yếu tố tâm lý - trữ tình đã lên men ở các nhân vật Loan và Đặng Vũ, thì rất có thể Thắng là một “phiên bản” không thể tuyệt vời hơn.

Lối kể chuyện từ ngôi thứ nhất (xưng “tôi”) được Thế Đức sử dụng trong tiểu thuyết “Trăng lên”, theo tôi, có thể là cơ hội để đi sâu vào cái cá thể, tâm linh, bản thể, nhưng cũng có thể là rào giậu hạn chế sự bung phá của một tiểu thuyết với kỳ vọng bao quát đời sống vào một thời kỳ nước sôi lửa bỏng nhất của đất nước trong tính toàn cảnh (panorama) của nó. Nói cách khác, tính chất chủ quan và khách quan của lối kể chuyện đôi khi rơi vào tình trạng nước đôi nếu tác giả cứ thích ướm mình vào nhân vật mà thuật chuyện một cách quá ư tự tin.

Tuy nhiên, với tư cách một người đọc văn có kinh nghiệm, tôi muốn chia sẻ với độc giả ngày nay vốn thông minh nhưng khó tính hơn xưa: “Trăng lên” là một cuốn sách đáng đọc trên mặt bằng văn chương năm Nhâm Dần.

Hà Nội, Xuân, 2022

Bùi Viết Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).